Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

Thuật toán “trì hoãn” – một giải pháp bổ khuyết cho cơ chế thị trường hay còn gọi “Lý thuyết thiết kế thị trường”

Trong kinh tế, nhiều vấn đề được giải quyết bằng hệ thống giá cả. Tuy nhiên, cũng có nhiều lĩnh vực mà cơ chế giá cả không thể giải quyết trọn vẹn vấn đề, nhất là khi đụng chạm đến phạm trù đạo đức. Ví dụ như việc hiến tặng nội tạng, hay phân phối học sinh vào các trường công lập. Đặc điểm chung của những lĩnh vực đó là các “sản phẩm” không hoàn toàn đồng nhất, hoặc thị trường rất “mỏng”.

. Cho đến trước những năm 1940, thị trường tuyển dụng bác sỹ mới ra trường ở Mỹ còn “mỏng” và không tập trung. Thời gian sau đó bắt đầu chứng kiến sự bùng nổ của thị trường, dẫn đến hiện tượng tắc nghẽn. Để có thể tuyển dụng được, các bệnh viện phải đưa ra những quyết định tuyển người rất sớm, vì nếu từ chối ứng viên nào đó, rất có thể là đã quá muộn để có một ứng viên khác nộp đơn. Tình hình đó buộc các bệnh viện đưa ra những thời hạn chót cho ứng viên rất gấp. Điều này kéo theo việc sinh viên phải nhận chỗ làm tương lai thậm chí ngay từ khi chưa quyết định mình sẽ theo chuyên ngành gì.

Tình hình tương tự cũng được quan sát thấy ở các nước khác như Anh và Canada.

Để giải quyết tình trạng trên, khoảng những năm 1950 ở Mỹ đã thành lập những trung tâm điều phối, nhằm giúp cho thị trường bác sĩ mới tránh được hiện tượng “tắc nghẽn”. Năm 1984, Roth phát hiện ra rằng, thuật toán mà các trung tâm điều phối ở Mỹ áp dụng thực chất gần với thuật toán chấp nhận trì hoãn của Gale và Shapley, xây dựng trong một bài báo đăng trên tạp chí American Mathematical Monthly năm 1962.

Một hiện tượng khác cho thấy sự cần thiết phải có thuật toán điều phối tương tự là vấn đề tuyển sinh vào các trường công lập ở New York. Học sinh có thể chọn trường mình muốn theo học, nhà trường có thể ưu tiên theo những tiêu chí riêng của họ, như học lực, khả năng thể thao, văn nghệ,… Cho đến trước năm 2003, việc phân phối học sinh vào các trường theo nguyên tắc sau: mỗi học sinh đưa ra năm nguyện vọng theo thứ tự ưu tiên, các trường lấy từ trên xuống cũng theo thứ tự ưu tiên của họ. Nếu học sinh nào mà cả năm nguyện vọng đều không được thỏa mãn (hết chỗ) thì buộc phải theo sự sắp xếp của thành phố. Quy tắc này giống với cách tuyển sinh đại học (theo thứ tự điểm) áp dụng hiện nay ở Việt Nam. Tạm gọi đó là thuật toán chấp nhận tức khắc. Theo quy tắc này, hằng năm ở New York có khoảng 30.000 học sinh không được theo học ở trường nào trong năm trường có nguyện vọng.

Roth phát hiện ra rằng, những vấn đề nêu trên đối với thị trường bác sĩ cũng như tuyển sinh, và nhiều vấn đề khác của thực tiễn có thể giải quyết nhờ thuật toán chấp nhận trì hoãn.

Thuật toán chấp nhận trì hoãn

Những vấn đề của thị trường bác sĩ và tuyển sinh có nét chung: đó là cần đến sự “ghép cặp” (giữa nhà tuyển dụng và ứng viên, giữa học sinh và nhà trường). Việc ghép cặp này phải bảo đảm ba yêu cầu:
- Ổn định: không xảy ra “nguyện vọng chéo”, tức là không xảy ra việc ứng viên A muốn vào X thì bị ghép vào Y, ngược lại ứng viên B muốn vào Y thì bị ghép vào X. Nếu có tình trạng đó, các ứng viên sẽ có nguyện vọng trao đổi, và hệ thống mất ổn định.

- Khuyến khích sự thành thật: các ứng viên cần đưa ra thứ tự ưu tiên thật sự của mình. Thuật toán cần đảm bảo sao cho sự thành thật làm lợi cho ứng viên, tránh tình trạng người gian dối được hưởng lợi.

- Thuật toán phải đơn giản, dễ áp dụng.

Điều đáng ngạc nhiên là một thuật toán đáp ứng cả ba yêu cầu đó đã được hai nhà toán học Gale và Shapley đưa ra năm 1962 ([3]), nhưng chính các tác giả không hề biết về khả năng áp dụng thuật toán.

Thuật toán chấp nhận trì hoãn (deferred acceptance algorithm) có thể mô tả như sau.

Xét một thị trường hai phía, gồm nhà tuyển dụng và ứng viên (ví dụ nhà trường và sinh viên). Các trường và sinh viên gửi danh sách thứ tự ưu tiên của mình đến một trung tâm thông tin.

Bước 1: Trung tâm xếp các sinh viên vào các trường theo “nguyện vọng 1” của họ. Các trường nhận (tạm thời) theo thứ tự ưu tiên. Khi đã đủ số cần thiết, những ứng viên còn lại bị từ chối.

Quá trình trên được lặp lại, cụ thể là:

Ở bước thứ k, mỗi sinh viên bị từ chối ở các bước 1 đến k-1 sẽ được đưa vào trường tiếp theo trong danh sách các nguyện vọng của sinh viên đó. Các trường sẽ lại xét theo danh sách mới (bao gồm các sinh viên đã được chấp nhận tạm thời ở những bước trước và những sinh viên vừa được đưa vào) và đưa ra danh sách chấp nhận tạm thời mới. Những sinh viên còn lại bị từ chối.

Quá trình kết thúc khi không còn đơn nhập học nào bị từ chối, hoặc khi chỉ còn lại những sinh viên đã bị từ chối ở tất cả các bước.

Gale và Shapley đã chứng minh chặt chẽ về mặt toán học những kết luận sau đây:

- Thuật toán kết thúc sau hữu hạn bước, và cho một lời giải ổn định

- Lời giải là tốt nhất có thể đối với các chàng trai. Nếu các cô gái được chủ động kén rể, thì kết quả sẽ tốt nhất cho các cô gái. Trong ví dụ trên đây, kết quả ghép cặp không thay đổi, tuy nhiên trong trường hợp tổng quát, kết quả có thể sẽ khác. Tức là, thuật toán nhằm ưu tiên quyền lợi cho “ứng viên”.

- Thuật toán áp dụng được cho cả những trường hợp số chàng trai và số cô gái khác nhau.
Cho đến những năm 1970, thuật toán chấp nhận trì hoãn của Gale và Shapley chỉ có ý nghĩa lý thuyết.

Lý thuyết thiết kế thị trường

Alvin Roth là người phát hiện ra khả năng ứng dụng to lớn của thuật toán chấp nhận trì hoãn. Roth chỉ ra rằng quan điểm “ổn định” giúp ta hiểu được khi nào thị trường hoạt động tốt, khi nào thì không. Cùng với các cộng sự, Roth đã kết hợp giữa những nghiên cứu thực tế với những thí nghiệm kiểm soát được trong phòng thí nghiệm, với việc sử dụng tương tự trên máy tính để kiểm tra cơ chế hoạt động của thị trường. Họ đã hoàn thiện và phát triển thuật toán của Gale và Shapley, áp dụng chúng để đề xuất những cơ chế giúp thị trường hoạt động tốt hơn. Những nghiên cứu này đã tạo nên một lĩnh vực mới trong kinh tế, được gọi là thiết kế thị trường. Trong lý thuyết của mình, Roth sử dụng cả những thành tựu của lý thuyết trò chơi hợp tác và bất hợp tác.

Từ năm 2003, những phương án do Roth và các cộng sự đề xuất cũng được áp dụng vào việc tuyển sinh của các trường công lập ở New York. Kết quả thật ấn tượng: con số khoảng 30.000 học sinh không được học đúng nguyện vọng hằng năm giảm xuống còn khoảng 3.000. Nhiều thành phố khác cũng bắt đầu áp dụng thuật toán đó, chẳng hạn Boston bắt đầu áp dụng từ 2005.

Những nghiên cứu về thiết kế thị trường của Roth cũng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước khác, như Anh, Canada, Nhật, vì những vấn đề đặt ra ở đó là hoàn toàn tương tự.

Những công trình về thiết kế thị trường của Roth và Shapley không chỉ liên quan đến những thị trường hai phía, mà còn cả những thị trường một phía. Năm 1974, Shapley và Scarf nghiên cứu những thị trường một phía, trong đó người tham gia có những tài sản nào đó (chẳng hạn những lô đất) mà họ muốn trao đổi với nhau không thông qua việc trả tiền. Mô hình này còn được cải tiến cho trường hợp có những người tham gia mà không có tài sản gì! Shapley và Scarf chứng minh rằng, thuật toán chu trình thương mại hàng đầu (top-trading cycle algorithm) của Gale sẽ đưa ra được một phân phối ổn định. Có thể mô tả thuật toán đó như sau.

Xét một tập hợp những đối tượng tham gia trao đổi. Ta vẽ một mũi tên xuất phát từ mỗi đối tượng A và đi đến đối tượng B đang nắm giữ tài sản mà A thích nhất. Làm như vậy, về mặt toán học, ta được một đồ thị hữu hạn có hướng. Trong mỗi đồ thị như vậy đều tồn tại ít nhất một chu trình. Khi đó những đối tượng nằm trong chu trình sẽ trao đổi với nhau, và họ được loại ra ngoài hệ thống. Quá trình tiếp tục cho đến khi không còn đối tượng nào. Roth và Postlewaite (1977) chứng minh rằng tồn tại duy nhất một phân phối ổn định.

Thuật toán trên đây được áp dụng rất hiệu quả ở Anh trong vấn đề điều phối việc hiến tặng nội tạng. Ví dụ, một người nào đó muốn hiến thận cho người thân của mình, nhưng nhóm máu của họ không hợp. Khi đó, họ sẵn sàng hiến cho người khác, với điều kiện người thân của mình nhận được quả thận thích hợp. Nếu chỉ có hai cặp như vậy chỉ cần tiến hành bốn ca mổ đồng thời. Tuy nhiên, vấn đề phức tạp hơn nhiều nếu không tìm ngay được một cặp thích hợp. Điều này dẫn đến việc phải thành lập những trung tâm điều phối, hoạt động trên cơ sở thuật toán vừa mô tả.

Kết luận

Giải Nobel 2012 của Roth và Shapley là thành tựu của việc kết hợp giữa lý thuyết toán học (thuật toán chấp nhận trì hoãn của Gale-Shapley và thuật toán chu trình thương mại hàng đầu của Gale) với những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và thực tiễn thị trường (Roth và các cộng sự). Điều này một lần nữa minh chứng cho tiềm năng ứng dụng của những nghiên cứu toán học trừu tượng, và những thành tựu đạt được với sự phối hợp những nghiên cứu đa ngành, một xu hướng tất yếu của khoa học hiện đại.

Sự đơn giản và hiệu quả của thuật toán chấp nhận trì hoãn cho chúng ta hy vọng có thể tìm thấy những ứng dụng của nó trong thực tiễn Việt Nam. Ví dụ như trong việc thiết kế cơ chế tuyển sinh thế nào cho phù hợp với xã hội; thiết kế cơ chế hoạt động của Trung tâm Điều phối hiến tặng nội tạng được thành lập cách đây không lâu.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, thực tiễn luôn đặt ra rất nhiều vấn đề phải giải quyết, và thị trường Việt Nam chắc chắn không giống với thị trường của bất kỳ nước nào. Vì thế, những thành tựu của Roth và Shapley, nếu có thể ứng dụng vào Việt Nam, chắc chắn cần nhiều cải tiến cho phù hợp.


Theo GS Toán học Hà Huy Khoái

Lớp Toán - Cơ K21 - ĐHTHHN sau 35 năm ra trường


Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Chuyên nghiệp và đạo đức trong dịch vụ công: Vấn đề và thực tiễn ở một số vùng cụ thể


Tóm tắt
Các vụ xì-căng-đan liên quan đến các nhân viên chính phủ hiện đang thu hút sự chú ý của thế giới trong những ngàyqua. Bất ngờ chứng kiến các thương vụ tư nhân mờ ám, các khoản viện trợ lệch hướng, các khoản bảo trợ lĩnh vực công trải rộng, chủ nghĩa tư bản băng đảng (1) (crony capitalism), lạm dụng việc tài trợ cho các cuộc vận động, dư luận hiện đang tranh cãi công khai về tham nhũng và sự thiếu chuyên nghiệp trong các chính phủ. Liệu nhân viên chính phủ có đòi hỏi phải có tiêu chuẩn trong làm việc và cư xử cao hơn những người khác hay không? Nếu có, thì tại sao? Cùng với sự ra đời của nhà nước hiện đại, nhân viên chính phủ được coi là những người quản lý nguồn lực công cộng và là người canh giữ niềm tin đặc biệt mà người dân đã đặt vào họ. Đáp trả sự tin tưởng này, người ta tin rằng nhân viên chính phủ sẽ đặt lợi ích công lên trên lợi ích tư.
Dịch vụ công, được cung cấp bởi nhân viên chính phủ – những người chịu sự điều chỉnh bởi các quy định cấp trung ương và địa phương về dịch vụ công, là một phần không thể thiếu của quá trình phát triển bền vững và năng lực điều hành quốc gia tốt. Đây cũng là một bộ phận không thể tách rời của nền dân chủ, bởi vì nó hoạt động trên cơ chế quản trị trung lập nhằm thực thi các quyết định của nhóm đại diện của người dân. Dịch vụ công không chỉ đóng vai trò trụ cột trong việc giúp chính phủ thực hiện các chiến lược tăng trưởng kinh tế của quốc gia mà còn triển khai các chương trình có chức năng đảm bảo an toàn cho các nhóm dễ bị tổn thương nhất trong xã hội. Với những vai trò cốt yếu như vậy, một quốc gia luôn mong muốn dịch vụ công của mình thể hiện được các tiêu chuẩn cao về sự chuyên nghiệp và tính đạo đức.
Sự chuyên nghiệp trong dịch vụ công thể hiện giá trị bao quát toàn bộ, quyết định cách thức các hoạt động sẽ được tiến hành. Nó chứa đựng tất cả các giá trị khác điều chỉnh dịch vụ công như sự trung thành, tính trung lập, minh bạch, sự tận tụy, chuẩn mực về thời gian, hiệu quả, công bằng và các giá trị cụ thể khác đối với từng quốc gia. Tính đạo đức trong dịch vụ công bao gồm một loạt các tiêu chuẩn rộng mô tả cách thức người cung cấp dịch vụ công nên cư xử khi đánh giá và ra quyết định trong lúc thi hành nhiệm vụ của họ. Những giá trị và tiêu chuẩn này được củng cố hơn nếu có một hệ thống các chính sách quản lý, thủ tục điều hành, và cơ quan giám sát để đưa ra các ưu đãi hoặc hình phạt nhằm khuyến khích nhân viên chính phủ thực thi nhiệm vụ của mình một cách chuyên nghiệp và đạt tiêu chuẩn cao.
Tuy nhiên, nhân viên chính phủ tại các quốc gia đang phát triển hoặc đang trong giai đoạn chuyển dịch vừa phải đối mặt với các thách thức toàn cầu của một thế giới đang thay đổi nhanh chóng, vừa phải thực thi nhiệm vụ dưới những khó khăn riêng. Thế giới có lẽ không còn bị đe doạ bởi chiến tranh lạnh, nhưng thay vào đó, lại đang phải đối mặt với xung đột sắc tộc leo thang, sự dân chủ hoá rộng khắp và những hệ luỵ gia tăng, một sự cân bằng đang dịch chuyển giữa các lực lượng xã hội dân sự/thị trường/nhà nước, toàn cầu hoá kinh tế, và những đòi hỏi ngày càng gia tăng của các công dân hiểu biết hơn. Những thay đổi toàn cầu này giải thích cho sự cần thiết xem lại vai trò của nhà nước và dịch vụ công trong việc phát triển con người bền vững.
Cùng lúc đó, nhiều quốc gia có một lượng lớn dân số sống dưới mức nghèo khổ cùng cực, với các nhu cầu cơ bản không được đáp ứng và số lượng người thất nghiệp hay bán thất nghiệp (under-employed) gia tăng nhanh chóng. Nhiều quốc gia trải qua xung đột, không thể đảm bảo những quyền cơ bản của con người, và phải chứng kiến các trật tự và các quy định pháp luật bị phá vỡ. Dưới những khó khăn riêng như vậy, nhân viên chính phủ ở các quốc gia đang phát triển hoặc đang chuyển dịch được đòi hỏi phải hoàn thành những nghiệp vụ bất khả thi – giải quyết xung đột, tái thiết quốc gia, xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển các xã hội thịnh vượng – dưới sự hạn chế cực kỳ của nguồn lực. Khi các nhu cầu cơ bản không thể được đáp ứng, thì bàn về tính chuyên nghiệp và đạo đức của dịch vụ công dường như là một điều xa xỉ.
Quan sát các vấn đề này và nhìn thấy cái giá để phát triển kinh tế xã hội của các nước thành viên, Liên hợp quốc đã cố gắng hướng sự quan tâm của cộng đồng quốc tế vào mối liên kết quan trọng giữa việc cung cấp dịch vụ công và vấn đề phát triển. Với quan điểm coi việc trợ giúp các nước thành viên theo đề nghị của họ là một nhiệm vụ, để tăng cường năng lực quản trị và điều hành của các quốc gia, Liên hợp quốc đã chủ động thúc đẩy tính chuyên nghiệp và đạo đức trong lĩnh vực dịch vụ công. Đặc biệt, Cơ quan về các vấn đề kinh tế và xã hội, Phòng Kinh tế và quản trị công thuộc Liên hợp quốc đã tổ chức một loạt các hội thảo quốc gia và khu vực về các chủ đề này. Ấn phấm hiện hành mang tên Tính Chuyên nghiệp và Đạo đức trong Dịch vụ Công 2 nêu khái quát các vấn đề được thảo luận, các báo cáo về thực tiễn và các kết luận rút ra từ ba trong số các hội thảo trên.
Ở cấp khu vực, vào năm 1997, Phòng Kinh tế và quản trị công đồng tổ chức một hội thảo khu vực với chủ đề Dịch vụ công trong giai đoạn chuyển dịch: Thúc đẩy vai trò, tính chuyên nghiệp và các giá trị và tiêu chuẩn đạo đức. Các bộ trưởng và chuyên viên cao cấp từ 21 quốc gia ở Trung và Đông Âu đã họp mặt ở Thessaloniki, Hy Lạp để thảo luận về vai trò của dịch vụ công trong quá trình biến đổi sâu rộng của xã hội, kinh tế và chính trị mà các quốc gia trong khu vực đang trải qua. Khi các quốc gia này tiến hành cải cách từ một nhà nước độc đảng sang đa đảng và từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế định hướng thị trường, nhà nước có thêm những vai trò mới và loại bỏ các vai trò cũ, với những ám chỉ về “nền dịch vụ công chuyển dịch”. Năm 1998, Phòng Kinh tế và quản trị công cũng tham gia tổ chức Hội nghị Toàn Châu Phi lần thứ 2 của các Bộ trưởng Dịch vụ dân sự về vấn đề dịch vụ dân sự ở Châu Phi: Thách thức mới, Tính chuyên nghiệp, và Đạo đức. Hội nghị diễn ra ở Rabat, Morocco thu hút sự tham dự của các bộ trưởng và chuyên gia từ 35 nước Châu Phi. Các đại biểu đã thảo luận về việc làm thế nào để tái định vị dịch vụ công của đất nước họ trong làn sóng suy thoái của kinh tế toàn cầu và các chính sách điều chỉnh cấu trúc. Hội nghị cũng thảo luận về vai trò cốt yếu của “nền dịch vụ công điều chỉnh” trong quá trình phục hồi kinh tế khu vực, thông qua việc tạo ra một môi trường có khả năng tạo ra của cải và đảm bảo phân phối công bằng.
Ở cấp độ quốc gia, Phòng Kinh tế và quản trị công đồng tổ chức một hội thảo chuyên đề ở Brazil về chủ đề Thúc đẩy vấn đề đạo đức trong lĩnh vực dịch vụ công vào năm 1997. Ở Brasilia, 300 chuyên viên cao cấp của các bang và liên bang cũng như đại điện của cộng đồng doanh nghiệp, truyền thông và các hiệp hội nghề nghiệp đã thảo luận cách thức hiện đại hoá dịch vụ công cho phù hợp với những cải cách theo chủ nghĩa “quản trị chuyên nghiệp” (“managerialist”) đã được áp dụng trong quản trị công ở Brazil. Tập trung chủ yếu vào mô hình đối với người nộp thuế, các đại biểu tham gia đã trao đổi về “dịch vụ công và chủ nghĩa quản trị chuyên nghiệp”. Sự chuyển dịch từ nền hành chính dựa trên nguyên tắc sang nền hành chính hướng đến kết quả này là ngụ ý cho tính chuyên nghiệp và đạo đức trong lĩnh vực dịch vụ công. Do dó, cuộc hội thảo đã thu được lợi ích từ các bài trình bày và thảo luận không chỉ liên quan đến Brazil mà còn liên quan đến nhiều quốc gia khác.
Mặc dù những hội thảo này được tổ chức ở nhiều khu vực khác nhau nhưng những người tham gia đều nhất trí về vai trò trung tâm của nhà nước trong việc phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, sự cần thiết dỡ bỏ những yếu tố chính trị ảnh hưởng đến nền hành chính và tính quan trọng của việc đáp ứng các nhu cầu của người dân. Các đại biểu dự họp bày tỏ quan điểm chống lại tham nhũng, kêu gọi ngăn chặn tham nhũng thông qua việc giải quyết các vấn đề gốc rễ như lương thấp và giảm lương. Họ cũng nêu bật nhu cầu và thách thức cụ thể của khu vực, quốc gia của họ nhưng cũng nhanh chóng nhìn ra những lợi ích của việc hợp tác quốc tế. Đối với những trường hợp tương tự nhưng có sự khác biệt mà các nước thành viên phải đối mặt, Liên hợp quốc sẽ tiếp tục tổ chức cho các nước này thảo luận vấn đề, chia sẻ giải pháp và thúc đẩy hợp tác. Những hành động này hy vọng sẽ giúp nâng cao tính chuyên nghiệp và đạo đức trong lĩnh vực dịch vụ công.
Liên hợp quốc
Cơ quan các vấn đề kinh tế và xã hội
Phòng Kinh tế và quản trị công
Ghi chú
[1] Chủ nghĩa tư bản băng đảng (crony capitalism) là cụm từ dùng để mô tả các hoạt động kinh tế mà mức độ thành công phụ thuộc vào sự cấu kết giữa doanh nghiệp và quan chức nhà nước để hưởng lợi từ các quy định phát luật, ưu đãi, trợ cấp hay các chính sách của nhà nước
[2] Bán thất nghiệp, under-employed, là tình trạng một lao động không có đủ công việc được trả lương hoặc không được dùng vào công việc sử dụng hết năng lực.

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

10 kiến thức căn bản về hiệp định TPP

Mỹ, Nhật Bản, Việt Nam và 9 quốc gia khác đang hy vọng sẽ hoàn thành ký kết TPP trong năm 2015. Theo Ezlaw, TPP sẽ là một sự kiện lớn nhất xảy ra với Việt Nam trong 20 năm nay (kể từ thời điểm Việt Nam và Mỹ bình thường quan hệ hóa vào năm 1995). Bạn có biết TPP là gì ? TPP là một hiệp định mang tính bước ngoặt, sẽ làm thay đổi cuộc chơi trong nền thương mại Việt Nam và Quốc tế. Bạn vẫn muốn biết rõ hơn về TPP ? Sau đây là những điều căn bản nhất mà bạn cần biết về hiệp định này

TPP Việt Nam

TPP, viết tắt của từ Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương), là một hiệp định, thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. 12 thành viên của TPP bao gồm: Úc, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Vietnam, Mỹ và Nhật Bản

*Hàn Quốc, Colombia, Costa Rica, Indonesia, Đài Loan, Thái Lan, và nhiều nước khác đang có ý định tham gia vào TPP
*TPP bắt đầu từ một thỏa thuận giữa Singapore, Chile, New Zealand và Brunei vào năm 2009, trước khi Hòa Kỳ quyết định tham gia và dẫn đầu

TPP Việt Nam

Mục tiêu chính của TPP là xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên

TPP Việt Nam

Ngoài ra, TPP sẽ còn thống nhất nhiều luật lệ, quy tắc chung giữa các nước này, như: sở hữu trí tuệ, chất lượng thực phẩm, hay an toàn lao động…

tpp ezlaw


Các quốc gia thành viên hiện tại của TPP chiếm 40% GDP của cả thế giới và 26% lượng giao dịch hàng hóa toàn cầu.

TPP Việt Nam

Mỹ muốn TPP sẽ là điểm chốt mới của họ tại Châu Á sau nhiều năm Mỹ đã lún quá sâu vào khu vực Trung Đông. Ngoài ra, nhiều học giả còn cho rằng Mỹ muốn sử dụng TPP để tạo ra một nền kinh tế hợp nhất trong khu vực có thể đối trọng lại với sự phát triển quá nhanh của Trung Quốc. Trung Quốc đã có lúc thể hiện ý định muốn tham gia TPP, nhưng nhiều điều khoản hiện tại của TPP dường như được thiết kế để cố tình không cho Trung Quốc có cơ hội tham gia vào thỏa thuận này.

TPP Việt Nam

WTO hiện có tới 161 thành viên, vì vậy một trong những nhược điểm của mô hình này là sự khó khăn và dài lâu để tiến đến một thỏa thuận chung liên quan đến bất kỳ vấn đề gì.

Hơn thế nữa, TPP sẽ đặt ra được các luật lệ quốc tế mà vượt qua phạm vi WTO như: chính sách đầu tư, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát các công ty nhà nước, chất lượng sản phẩm và lao động….

TPP Việt Nam

Hầu hết các thỏa thuận quốc tế là về xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, ví dụ như: Ta có thể nhập khẩu số lượng X hàng hóa với giá Y khi các mặt hàng này đã đủ tiêu chuẩn về chất lượng hoặc lao động. TPP khác vậy. Chính bản thân TPP sẽ tạo ra các điều luật quốc tế có khả năng điểu chỉnh chính sách và hướng đi của luật pháp trong từng quốc gia thành viên.  Nói một cách khác, các điều luật của các quốc gia thành viên sẽ phải tuân theo định hướng của TPP.

Nhiều điều luật trong TPP còn có ảnh hưởng thay đổi chế độ pháp lý của các quốc gia. Ví dụ như điều luật khuyến khích các thành viên của TPP mở một cơ quan chính phủ, có cơ chế và cách thức hoạt động giống tại Mỹ, thực hiện phân tích ưu-nhược điểm trước khi ban hành các điều luật mới trong nước.
TPP Việt Nam
Thỏa thuận TPP bao gồm 29 chương, trong đó chỉ có 5 chương là trực tiếp liên quan đến vấn đề trao đổi hàng hóa, dịch vụ, các chương còn lại đề cập nhiều vấn đề liên quan đến các chuẩn mực, tiêu chuẩn khác nhau về môi trường, chất lượng lao động, luật lệ tài chính, thực phẩm và thuốc men… 
*Chú ý rằng TPP sẽ bắt loại bỏ nhiều lợi ích của các công ty nhà nước (là một phần lớn của nền kinh tế Việt Nam), để tạo cơ hội cạnh tranh cho các công ty tư nhân. 
TPP Việt Nam
Với hiệp định TPP, các công ty, tập đoàn nước ngoài và quốc tế sẽ có khả năng mang chính phủ của các quốc gia thành viên ra tòa án đặc biệt của TPP khi các quốc gia này đặt ra các luật lệ, chính sách đi ngược lại với chỉ tiêu của TPP. Tòa án đặc biệt này có toàn quyền bắt chính phủ đền bù không những cho các thiệt hại đã xảy ra, mà còn những mất mát về cơ hội trong tương lai của các tập đoàn, công ty quốc tế. 
TPP Việt Nam
Các thành viên tham gia TPP đều đã phải ký một thỏa thuận giữ bí mật về tiến trình thương lượng chi tiết các điều luật của TPP. Các nước này chỉ được tiết lộ những thông tin trên đến các cơ quan chính phủ, tổ chức, và cá nhân có liên quan trực tiếp đến tư vấn chính sách giao dịch. 
*Hiện tại, một số chương của TPP có thể tìm thấy tại wikileaks - kênh chuyên đăng các thông tin tuyệt mật. 
Theo Ezlaw, mọi người dân Việt Nam, đặc biệt nhất là các nhà trí thức, luật sư, doanh nghiệp, khởi nghiệp... cần phải biết rõ và nhiều hơn về TPP - sự kiện lớn sắp xảy ra với Việt Nam và thế giới. Hãy đón xem các bài phân tích sâu hơn về TPP tại Ezlaw Blog.

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

Nhìn xa, nhìn gần đều thấy giật mình

Nhìn xa
TTP - Nửa đầu năm 2015?

"Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được nhắc đến nhiều vì đây là hiệp định thương mại lớn nhất thế giới, với chỉ 12 nước tham gia nhưng có quy mô 40% GDP toàn cầu. Thứ hai, đây được coi là hình mẫu của hiệp định thương mại thế kỷ XXI với mức độ toàn diện cao nhất, không chỉ về thương mại, đầu tư, mà tác động đến cả chính sách trong mỗi nước. Khác với việc gia nhập WTO là gia nhập một tổ chức thì tham gia TPP là ký kết một hiệp định với những điều khoản rất cụ thể. Tuy đã lỡ dịp ký năm 2014, tuy nhiên các bên đang kỳ vọng TPP sẽ được ký trong nửa đầu năm 2015.
Điểm đặc biệt của chúng ta, theo xếp hạng năm 2015 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), trong 12 nước tham gia TPP thì Việt Nam là nước có năng lực cạnh tranh thấp nhất!
Đáng nói hơn, trong TPP thì Việt Nam có hạng thấp nhất về bản chất của năng lực cạnh tranh. Theo cách phân loại của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, trong TPP thì bảy nước Nhật, Singapore, Mỹ, Malaysia, Úc, Canada và New Zealand nằm trong nhóm phát triển dựa vào sáng tạo. Hai nước Chile và Mexico nằm trong nhóm phát triển dựa vào năng suất. Riêng Việt Nam và Peru nằm trong nhóm dưới đáy, được gọi là phát triển kinh tế dựa vào các yếu tố được thiên nhiên ban phát. Hay nói cách khác, so trên thế giới thì chúng ta được coi là nền kinh tế đào xúc và hái lượm!" (Theo Vietnamnet)



Nhìn gần
EAC - 12/2015

Cộng đồng kinh tế ASEAN (EAC) lại là sự kiện gần gũi nhất với Việt Nam, với thời hạn đã được ấn định là tháng 12-2015, tức còn đúng một năm nữa. Mười nước ASEAN sẽ trở thành một cộng đồng kinh tế tự do với quy mô 2.300 tỉ USD, với dân số 600 triệu người. Giữa cộng đồng này sẽ là dòng chảy hoàn toàn tự do về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có kỹ năng (trước mắt là tám ngành gồm bác sĩ, nha sĩ, y tá, kỹ sư, kiến trúc sư, kế toán, giám định và du lịch).
Còn trong EAC, đếm đầu quốc gia thì có vẻ như năng lực cạnh tranh của chúng ta không quá tệ: đứng dưới năm nước và đứng trên ba nước. Tuy nhiên, phải nhìn vào quy mô kinh tế thì mới thấy bức tranh thực. Nhóm có năng lực cạnh tranh cao hơn chúng ta chiếm 89% GDP của cả khối, trong khi chúng ta chỉ trên được một nhóm tương đương 3% GDP của cả khối.
Càng đi sâu vào so sánh các chi tiết, càng có nhiều điểm làm cho chúng ta phải giật mình. Việt Nam xếp hạng tệ nhất trong ASEAN về chi phí thuế (gồm chi phí tiền bạc và chi phí thời gian cho thuế). Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới, thời gian doanh nghiệp phải tốn cho thuế ở Việt Nam cao gấp 10 lần ở Singapore và năm lần ở Campuchia.
Về trình độ marketing và trình độ quy trình tổ chức, chúng ta đứng hạng 114 và 116 trên thế giới, trong ASEAN, chúng ta xếp hạng thấp hơn cả Lào và Campuchia.
Về hàng loạt các chỉ tiêu quan trọng khác, Việt Nam cũng đứng thấp hơn cả Lào và Campuchia, chỉ đứng trên được một mình Myanmar. Đó là chỉ tiêu về khả năng thu hút nhân tài, khả năng giữ chân nhân tài, chỉ tiêu đầu tư đào tạo nhân viên, chỉ tiêu về niềm tin để trao quyền cho cấp dưới…

Còn về chỉ tiêu xếp hạng sức khỏe của hệ thống ngân hàng, Việt Nam thậm chí còn đứng thấp hơn cả Myanmar, đứng hạng chót trong khối ASEAN.
(theo Vietnamnet)
(http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/213881/nuoc-da-den-chan-doanh-nghiep-van-chua-san-sang.html)






Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014

Thêm Một Cơ Hội Mới Cho Việt Nam


Alan Phan

new spring

27 July 2014

Tôi quyết định quay về kinh doanh tại Mỹ cách đây 3 năm. Kinh tế Việt Nam đang bước vào một chu kỳ mới mà dân làm ăn chúng tôi gọi là “day of reckoning” (ngày phán xét?); nôm na là khi các bong bóng bắt đầu xì hơi, rác rưởi như nợ xấu, gánh nặng hành chánh, tham nhũng…không còn đủ chỗ để đem “dấu dưới thảm” được nữa. Ở các nền kinh tế thị trường khác, những biến cố tương tự cũng không hiếm (chúng là cá thể của tư bản tham lam)…nhưng những lực đẩy từ chánh phủ đến tư nhân chung sức điều chỉnh; và sau vài năm, phần lớn các cấu trúc, vận hành bắt đầu hồi phục.
Việt Nam hơi khác. Trong định hướng CNXH, chánh phủ cố gắng điều trị theo lối “bôi dầu cù là”, hy vọng một phép lạ nào đó sẽ “úm ba la” chữa lành mọi bệnh tật. Còn tư nhân thì quen lối làm giàu dựa trên quan hệ với quyền lực nên không nghĩ đến các giải pháp sáng tạo nào khác ngoài việc “lobby” để hưởng cứu trợ, khoanh hay giảm nợ. Với một nhận định như vậy, tôi và nhiều nhà đầu tư ngoại dài hạn khác write-off (xoá sổ) các khoản tiền đã mất ở Việt Nam và đi tìm chân trời mới. (Tuy nhiên, một cơn bạo bệnh kéo dài hơn 1 năm đã làm chậm lại kế hoạch này của tôi).
Trong khi vài nhà đầu tư vẫn đam mê tiềm năng của các quốc gia mới nổi, phiêu lưu vào Myanmar, Ấn Độ, châu Phi…tôi đánh cược vào nền kinh tế Mỹ qua sự năng động của công nghệ mới, hệ thống pháp trị và những lực chuyển trong hai thập kỷ tới trên toàn cầu (Xin xem loạt bài về Lực Chuyển trên web site Góc Nhìn Alan). Sau một năm vất vả để hoàn thiện các chi tiết của kế hoạch kinh doanh, tiếp cận đối tác và mentors (thầy đỡ đầu), lấy xong giấy phép…tôi hứng khởi bắt tay vào việc mới…ở tuổi 69. Tôi đem gia đình đi nghỉ hè 1 tháng để thu nạp thêm năng lượng.
Trong khi đó, như chúng tôi đã tiên đoán, suốt 5 năm qua, Việt Nam vẫn tiếp tục tổ chức hội thảo liên miên để bàn về nợ xấu, tái cấu trúc, cải cách cơ chế, hệ thống ngân hàng, phương thức bắt kịp các quốc gia láng giềng….Chúng tôi đều đoán trước kết quả: thành phần có quyền và có tiền có quá nhiều thứ để mất nếu thay đổi, sợ bứt dây động rừng, sợ cạnh tranh trên một sân chơi bằng phẳng… Thành phần bỏ quên bên lề thì vẫn tiêu thụ bia rượu, thuốc lá, số đề… với nhiều kỷ lục mới và vẫn cho là mình hạnh phúc nhất nhì thế giới.  Bánh xe kinh tế tiếp tục lăn theo nhịp độ của FDI, kiều hối và ODA. Do đó, điều kiện đòi hỏi dành cho các dự án FDI càng ngày càng dễ dãi để lưu giữ dòng tiền đang rò rỉ từ Trung Quốc. (Lý do chính là  vì giá sản xuất tại Trung Quốc cao vụt biến cùng những  tệ nạn về ăn cắp bàn quyền, khích động chánh trị Hán hoá của chánh phủ  và hệ thống phong bì).  Khoản tiền ODA càng vay nhiều càng tốt, lợi lộc càng nhiều…và việc trả nợ thì đã có thế hệ sau lo.
Ở tầm vĩ mô hơn, Việt Nam vẫn coi mình là đàn em ngoan ngoãn của Trung Quốc, có một đồng minh chiến lược với Nga, có những người bạn thân thiết như Bắc Triều Tiên, Cuba, Venezuela…An ninh nội địa vững vàng với gọng kềm kiểm soát và mọi chánh sách ngoại giao đều hướng về mục tiêu “làm vừa lòng mọi người”. Nếu đế quốc Mỹ có phàn nàn về nhân quyền thì ra vài câu tuyên bố lấy lệ, rồi quay lưng bảo nhau…thằng Mỹ nó giàu mạnh nhưng ngu lắm.
Trong bối cảnh đó, khó mà có thể hình dung Việt Nam biến thể thành một con chim cánh cụt…nói gì đến hoá rồng. Nếp sống người dân có thể tăng cao hơn đà tiến chung của nhân loại vì dân Việt thông minh và láu cá hơn; nhưng kinh tế Việt Nam sẽ vẫn đội sổ về hiệu năng và vị trí.
Tuy nhiên, lá số tử vi của nhà cầm quyền Hà Nội tốt thật. Định mệnh lại tình cờ cho họ thêm một cơ hội mới.
Trung Quốc đem giàn khoan vào lãnh hải Việt Nam, Putin Nga quay mặt ôm hôn Tập Cận Bình, và các bạn thân thiết như Bắc Triều Tiên, Cuba…hoàn toàn không quan tâm. Một tình thế mới tạo nên một thực tại mới khá phũ phàng, như khi người vợ khám phá ra là chồng đang ăn nằm với nhiều bà vợ khác, kể cả bạn thân của mình. Dĩ nhiên bà vợ vẫn mang nhiều hy vọng là ông chồng sẽ hồi tâm và quay lại với mình để nối lại cuộc đời “16 chữ vàng” như xưa.
Đây không phải là điều đáng ngạc nhiên với các chánh trị gia chuyên nghiệp. Chơi đểu, lừa gạt, tham lam…là bài học hàng đầu từ Machiavelli, Tôn Tử… Chỉ có những ông già vừa ngu vừa điên…mới ngạc nhiên. Tuy vậy, một sự kiện làm tôi và vài chuyên gia “shocked” là sự can thiệp của Mỹ đã có hiệu lực đến thế nào với Trung Quốc! Vì quyền lợi của tư bản Mỹ trong thế cân bằng của địa chánh trị tại Biển Đông, Trung Quốc đã rút giàn khoan sớm hơn dự định, tránh một cuộc đối đầu bất lợi lúc này với liên minh Mỹ-Nhật-Úc. Dĩ nhiên, đây chỉ là một bước lùi để lấy đà tiến lên hai ba bước sau này…nhưng cũng là một chiến thắng nhỏ cho quyền lực Mỹ.
Quay lại thế cờ mới của Việt Nam. Cách đây vài năm, Myanmar phải thoát Trung bằng một động thái quyết liệt cần nhiều can đảm và vốn chính trị của các lãnh đạo. Theo một lời đồn, khi biết Myanmar muốn ngã về phương Tây, Trung Quốc đã bật đèn xanh để vài phần tử Miến Điện thân Trung Quốc thực hiện một cuộc đảo chánh. Âm mưu bất thành và định mệnh Myanmar bước vào một chu kỳ mới. Việt Nam may mắn hơn. Với sự tranh chấp công khai hoá toàn diện và với sự bầy tỏ ý muốn thoát Trung của đa số dân Việt, các phần tử thân Trung Quốc phải cẩn thận dè chừng trong mọi hành động.
Đây là cơ hội mới hiếm hoi cho những lãnh đạo Việt Nam muốn rẽ qua một con đường mới.
Nhiều người Việt “tư hào” là mình sẽ không cần theo ai hay thoát ai. Việt Nam có con đường riêng của mình. Tôi hiểu đó là con đường xuống bãi sình lầy chúng ta đã tới đích sau 70 năm cố gắng. Không dựa trên bất cứ một triết thuyết cao siêu nào về chính trị hay kinh tế, tôi có thể đoan chắc là trên mọi chiến trường hay thương trường, trừ khi bạn là một siêu cường, hay một lãnh đạo,  bạn “phải” chọn phe. Không có sức mạnh nội tại mà đòi “trung lập”, thì sớm hay muộn, bạn sẽ bị cả hai phe tiêu diệt (nhiều khi chỉ cho bỏ ghét).
Tôi thực sự không biết các lãnh đạo Việt Nam sẽ chọn lựa như thế nào. Sẽ ngã về một nền kinh tế tư bản thị trường pháp trị của phương Tây như 98% các quốc gia khác đang làm; hay sẽ theo lời khuyên của hoàng đế cách mạng Fidel Castro đứng hẳn về một trật tự mới do Trung Quốc và Nga đang thiết lập? Dù thế nào, nó sẽ không ảnh hưởng gì đến sinh hoạt và công việc của tôi hay triệu người gốc Việt trên khắp thế giới.
Tôi chỉ biết rằng ân sủng của Ơn Trên đang cho Việt Nam một cơ hội mới. Như trong những video games, nút RESET đã được bấm. Quê hương và dân tộc đang chờ đợi.
Có thể chúng ta lại sẽ chẳng làm gì. Như suốt vài chục năm qua. Mọi người còn quá bận lo chuyện cá nhân và gia đình? Mong là định mệnh Việt Nam không hẩm hiu như vậy.
Alan Phan
PS: “ Không có quyết định nào khó khăn hơn, chịu nhiều thử thách hơn và khó đoán được thành quả hơn…là nắm cơ hội để đem đến một trật tự mới – There is nothing more difficult to take in hand, more perilous to conduct, or more uncertain in its success, than to take the lead in the introduction of a new order of things. – Niccolo Machiavelli)

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014

Điểm lại sự tồn vong của các đế quốc trên thế giới

Thanh Bình
Vietnamnet

Trong kỷ nguyên hiện đại của các quan hệ đối ngoại, rất khó tưởng tượng việc một chính quyền đơn lẻ kiểm soát hầu hết thế giới. Tuy nhiên, mãi cho tới gần đây, vào thế kỉ 20, trên thế giới vẫn còn những siêu cường mà lãnh thổ trải khắp một hoặc nhiều lục địa và con đường đi lên cũng như suy vong của chúng liên quan chặt chẽ đến ngày nay.

Đế quốc La Mã (năm 27 trước Công nguyên - năm 476 sau Công nguyên):
Người La Mã là lãnh đạo trong hầu hết các lĩnh vực: quân sự, chính quyền, ngôn ngữ và văn hoá. Tuy nhiên, trong suốt thế kỉ 4 sau Công nguyên, những cuộc chinh phạt lặp đi lặp lại của các nước bên ngoài đã gây mất ổn định Đế chế Tây La Mã. Ngược lại, Đế chế Đông La Mã tiếp tục giành được sự thịnh vượng và quyền lực từ các mạng lưới buôn bán của họ. Không thể cùng tồn tại, hai bên cuối cùng đã chia rẽ.

Đế quốc Khmer (802-1431):
Các lãnh đạo Khmer đã xây dựng sự phồn thịnh dựa trên việc khai thác triệt để các nguồn tài nguyên giàu có của Đông Nam Á. Trung tâm và cũng là thành phố thủ phủ của đế quốc đặt tại Angkor, nơi các hệ thống tưới tiêu nhân tạo đã dẫn nước tới các cánh đồng lúa và nông trại khắp lãnh thổ. Các nguyên nhân đằng sau sự sụp đổ của Angkor hiện vẫn chưa rõ nhưng có một sự thực là đế quốc đã sụp đổ khi trung tâm kỹ thuật của nó tan rã.

Đế quốc Byzantine (962-1461):
Còn được biết đến như Đế chế La Mã thần thánh, Đế quốc Byzantine thành công bởi vì các lãnh đạo của nó có thể kết hợp quyền lực chính trị của Đế quốc La Mã với sự thống trị tinh thần của Nhà thờ Thiên Chúa giáo La Mã. Chiến lược đó đã phát huy hiệu quả suốt gần 500 năm nhưng mâu thuẫn nội bộ đã gây tổn thất cho đế chế. Và cuối cùng, Đế quốc Byzantine sụp đổ khi người Ottoman xâm chiếm vào cuối thế kỉ 15.

Đế quốc Mông Cổ (1206 - 1368):
Người Mông Cổ, dưới sự dẫn dắt của hàng loạt các lãnh đạo quân sự hùng mạnh (kể cả nhân vật Thành Cát Tư Hãn gây nhiều tranh cãi), đã có thể dùng vũ lực mở rộng bờ cõi, thâu tóm một diện tích rộng lớn ở châu Á và gặt hái vô vàn lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, cũng giống như những quốc gia tồn tại trước đó, đế quốc đã trở thành nạn nhân của bất ổn và xung đột chính trị nội bộ. Tinh thần quả cảm trong chiến đấu không đủ để giữ cho đế quốc Mông Cổ tránh khỏi sự sụp đổ vào thế kỉ 14.

Đế quốc Ottoman (1299 - 1922):
Vì người Thổ Nhĩ Kỳ đã hợp nhất một loạt các tôn giáo và dân tộc vào đế quốc Ottoman của mình nên họ có thể giữ cho lãnh thổ gần như luôn ổn định suốt hơn 600 năm. Tuy nhiên, chủ nghĩa dân tộc là nguyên nhân dẫn tới sự suy vong của đế chế: khi các quốc gia chấu Âu bắt đầu tuyên bố độc lập vào thế kỉ 20 thì chính phủ nợ nần chồng chất và kém hiện đại hoá đã không thể kiểm soát được chúng nữa.

Đế quốc Inca (1438 - 1535):
Người Inca lớn mạnh nhờ một chính quyền có tổ chức và kỉ luật cùng các hệ thống nông nghiệp và kỹ thuật phức tạp. Tuy nhiên, cuộc chiến giành quyền lực khốc liệt trong tầng lớp ưu tú đã khiến những kẻ xâm lược Tây Ban Nha dễ dàng tiến công và nắm quyền kiểm soát đế quốc. Kỹ thuật tiên tiến của người Inca, kể cả một mạng lưới đường sá, đã khiến công việc của người Tây Ban Nha thậm chí dễ dàng hơn.

Đế quốc Mughal (1526 - 1858):
Đế quốc này đã đổi mới vào thời của nó. Các chính sách như khoan dung về tôn giáo và hôn nhân khác chủng tộc với tầng lớp chiến binh Hindu đã giúp duy trì sự ổn định trong một đế chế trải dài gần khắp tiểu lục địa Ấn Độ. Tuy nhiên, các cuộc nổi dậy sau này của người dân đã dẫn tới sự diệt vong của đế quốc.

Đế quốc Anh (1583 - 1997):
Các thuộc địa sinh lời cùng một quân đội áp đảo đã mang lại cho người Anh sức mạnh vô địch ở khu vực châu Mỹ. Thậm chí ngay cả sau khi mất các thuộc địa ở châu Mỹ, đế quốc thương mại đã mở rộng xa tới tận Ấn Độ và Trung Quốc. Mặc dầu vậy, sau Thế chiến thứ hai, những tổn thất to lớn về tài chính và thảm hoạ về quân sự cũng như thất bại trong nỗ lực xâm chiếm kênh đào Suez, đã báo hiệu sự diệt vong của đế quốc. "Mặt trời cuối cùng cuối cùng cũng lặn" ở Đế quốc Anh vào năm 1997 khi Hồng Kông được trao trả cho Trung Quốc.

Triều đại nhà Thanh (1644 - 1912):
Còn được biết tới như triều đại Mãn Châu, các vua chúa nhà Thanh đã áp đặt những luật lệ hà khắc nhằm buộc các tộc người Hoa khác phải quy phục. Triều đại này của họ được đánh dấu bằng sự tàn bạo và kiểm duyệt gắt gao. Tuy nhiên, vào đầu thế kỉ 20, không còn chính quyền trung ương đàn áp, các cuộc khởi nghĩa quy mô lớn của người dân vốn đã bắt đầu lan khắp cả nước. Chủ nghĩa bè phái của các tướng cuối cùng đã chia rẽ đế quốc.

Đế quốc Nga (1721 - 1917):
Peter Đại đế đã giúp Nga trở thành một trong 5 thế lực vĩ đại của châu Âu thông qua việc thúc đẩy các thần dân hiện đại hoá và mở rộng tầm với toàn cầu. Tuy nhiên, sức mạnh quân sự ngày càng thu hẹp của đế quốc cùng với thất bại trong cuộc chiến Nga - Nhật, đã tạo điều kiện thuận lợi cho những người Mác xít thắng thế và tiến vào một kỷ nguyên mới của đảng Cộng sản lãnh đạo.

Đế quốc của Napoleon (1804 - 1814):
Sự lãnh đạo quân đội đầy tài năng và tham vọng của Napoleon đã giúp người Pháp chinh phục được một dải đất rộng lớn ở châu Âu và chiếm đóng đa số phần còn lại. Tuy nhiên, sự ngạo mạn của Napoleon cuối cùng đã phản lại ông: những tổn thất trên bán đảo Iberia, cuộc chinh phạt thảm khốc vào nước Nga và thất bại lừng danh trong trận chiến Waterloo đã dẫn ông tới việc phải thoái vị, để đế quốc tan rã.

Mỹ (1776 - ?):
Mặc dù Mỹ không thực sự là một đế quốc nhưng nước này vẫn tự hào là nắm giữ một vị thế thống trị thế giới thông qua những ý tưởng, sức mạnh quân sự, thương mại, công nghiệp, giáo dục và công nghệ. Tuy nhiên, khi Trung Quốc và Ấn Độ đang trên đà tiến lên thì Mỹ phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng và địa vị đứng đầu của nước này trên trường quốc tế đang lung lay. Nỗi e sợ về việc Mỹ đánh mất quyền lực đã trở thành một chủ đề chính trong văn học và chính trị trong vài thập kỉ qua.

(Theo Newsweek)
Vietnamnet

Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Khủng Hoảng tại Ukraine

Vũ Hoàng & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 140226


Việt Nam ơi! Dân trí của họ cao, và dù nghèo cũng không hèn!   
000_Par7797118-305.jpg
* Biểu tình tại thủ đô Kiev, Ukraina hôm 19/02/2014. AFP* 
Ngoài các nguyên nhân thuộc về địa dư chiến lược của một quốc gia nằm giữa hai khu vực Đông-Tây của Âu Châu, yếu tố kinh tế có góp phần dẫn tới cuộc khủng hoảng tại Ukraine và còn giải thích nhiều khó khăn sắp tới của người dân sau ba tháng đầy biến động vừa qua. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về hồ sơ kinh tế đó với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa qua cuộc trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây.

 

Một hồ sơ phức tạp

 

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Sau đúng ba tháng biến động khiến gần 90 người bị thiệt mạng trong các cuộc biểu tình đổ máu, Ukraine đã vừa qua khúc quanh khi Tổng thống Viktor Yanukovych bị truất phế và truy nã trong khi Quốc hội xứ này cố xây dựng hệ thống lãnh đạo mới cho tương lai. Hôm Thứ Hai 24, các giới chức vừa được trao nhiệm vụ lâm thời cho giai đoạn chuyển tiếp lập tức nói đến nhu cầu 35 tỷ Mỹ kim để tránh cho xứ sở một vụ khủng hoảng kinh tế nữa. Thưa ông, 35 tỷ đô la là tương đương với 20% Tổng sản lượng của Ukraine, tức là một con số không nhỏ. Vì sao lại có chuyện đó, và yếu tố kinh tế có là một phần của lý do khủng hoảng tại Ukraine hay chăng?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta mở ra một hồ sơ thuộc loại phức tạp nhất thế giới, và ngoài các bài toán nan giải thuộc về địa dư, lịch sử và chính trị, thì kinh tế có góp phần quyết định về sự thịnh suy của Ukraine sau cuộc cách mạng vừa qua.
Vũ Hoàng: Trước hết, xin ông trình bày cho khán thính giả về bối cảnh của hồ sơ Ukraine.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ukraine có số phận hẩm hiu từ tên nước, nguyên ngữ là "biên vực", vì lãnh thổ là biên địa của các Đế quốc lớn ở chung quanh, với người dân đang xây dựng ý thức dân tộc thì bị giằng xé giữa hai sức hút ở hai ngả Đông và Tây.
Qua năm 2010, tình hình đã khá hơn, với đà tăng trưởng là hơn 4%, thì khủng hoảng chính trị lại xuất hiện và Ukraine không thể cải cách cơ chế kinh tế nên bị nguy cơ vỡ nợ cuối năm ngoái. Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Có diện tích gấp hai Việt Nam với dân số chỉ bằng phân nửa và lợi tức cao gấp đôi, Ukraine thật ra là quốc gia giàu tài nguyên và có trình độ dân trí cao. Khi bị Liên Xô thôn tính sau Thế chiến I, xứ này trở thành Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Ukraina của Liên bang Xô viết và đã hứng chịu mọi tai họa bi thảm trong gần 30 năm, như bị Stalin bỏ đói rồi bị Hitler tàn sát. Từ sau Thế chiến II, Ukraine mới là nước Cộng hoà giàu thứ nhì của Liên Xô, với nông nghiệp và công nghiệp thuộc hàng tiên tiến, theo tiêu chuẩn cộng sản. Hai lãnh tụ Liên Xô là Nikita Kruschev và Leonid Brezhnev đều xuất thân hay tốt nghiệp từ Ukraine. Tuy nhiên, 70 năm dưới chế độ cộng sản cũng di hại về tư tưởng và môi sinh cho một vùng đất trù phú. Đến nay nét tiêu cực đó vẫn còn, nhất là ở khu vực tiếp giáp với nước Nga, tại miền Đông.
- Khi Liên Xô bắt đầu tan rã thì dân Ukraine tuyên bố độc lập, vào Tháng Tám năm 1991. Sau đó kinh tế bị khủng hoảng mất 10 năm để ra khỏi chế độ tập trung quản lý, mức sống sụt phân nửa và dân số sút giảm vì môi sinh bị hủy hoại. Mãi đến năm 2000 thì kinh tế Ukraine mới ổn định và tăng trưởng khả quan là 7% một năm. Nhưng chỉ được tám năm là bị hiệu ứng khủng hoảng toàn cầu năm 2008 nên lại suy sụp mất hơn 15% với thất nghiệp tăng vọt hơn 9%.
- Qua năm 2010, tình hình đã khá hơn, với đà tăng trưởng là hơn 4%, thì khủng hoảng chính trị lại xuất hiện và Ukraine không thể cải cách cơ chế kinh tế nên bị nguy cơ vỡ nợ cuối năm ngoái. Chính là nguy cơ ấy mới dẫn tới biến động từ ngày 21 Tháng 11 vừa qua cho đến tuần này.
Vũ Hoàng: Nếu có thể tóm lược thì hai chục năm qua Ukraine chỉ có bảy năm tốt đẹp. Nhưng thưa ông vì sao lại có chuyện Ukraine không thể cải cách cơ chế kinh tế nên bị nguy cơ vỡ nợ?
000_Par7800656.jpg
Phe biểu tình chống chính phủ trên một chiếc xe quân đội ở Kiev, Ukraine hôm 22/02/2014.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng đấy mới là bài học kinh tế đáng chú ý nhất khi ta nói về trường hợp của Ukraine.
- Sau khi giành lại độc lập, Ukraine có cải cách về hình thức trên nền tảng vẫn xã hội chủ nghĩa. Việc tư nhân hóa hệ thống doanh nghiệp nhà nước chỉ là xẻ thịt các cơ sở quốc doanh và tạo cơ hội làm giàu cho một số tài phiệt tham nhũng. Họ cấu kết với hệ thống chính trị để bảo vệ đặc lợi và duy trì sự lệ thuộc vào kinh tế Nga vì đã từng hội nhập vào kinh tế Xô viết. Đấy là hiện tượng chung của các nước chuyển hướng theo kinh tế thị trường mà không cải tổ chính trị cho dân chủ, Trung Quốc hay Việt Nam cũng có tệ nạn đó.
- Vì nạn gian lận trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 2004 mà cuộc Cách mạng màu Da Cam bùng nổ. Nhờ đó, Ukraine có một Hiến pháp và chính quyền tương đối dân chủ hơn mà chưa cải thiện kinh tế và diệt trừ nạn tham nhũng nên có gây bất mãn cho dân chúng. Trong bối cảnh chính trị bất lợi đó, có hai biến cố xảy ra. Thứ nhất là hậu quả của Tổng suy trầm năm 2008 và thứ hai là vì cuộc Cách mạng Da Cam và xu hướng thân Âu Châu của chính quyền mới mà đầu năm 2009, Nga gây sức ép về giá khí đốt do Nga bán cho Ukraine và qua lãnh thổ Ukraine cho các nước Âu Châu. Bên trong, hai lãnh tụ Cách mạng Da Cam lên làm Tổng thống là ông Viktor Yuschenko và Thủ tướng là bà Yulia Timoshenko lại bất hòa và không chấn chỉnh nổi hệ thống quản lý vĩ mô nên khủng hoảng kinh tế lên tới cao điểm năm 2009 rồi mới giảm.
Vũ Hoàng: Như ông vừa trình bày thì qua năm 2010, Ukraine còn bị một vụ khủng hoảng chính trị với hậu quả là những khó khăn kinh tế kéo dài cho đến năm ngoái. Câu chuyện rắc rối này là như thế nào?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vì sự phân hoá giữa Tổng thống Yuschenko và Thủ tướng Timoshenko mà ông Viktor Yanukovich, nhân vật thân Nga đã thất cử năm 2004, lại thắng và lên làm Tổng thống từ cuộc bầu cử năm 2010. Khi lên cầm quyền sau một cuộc bầu cử tương đối trong sạch, ông Yanukovich lại có ý thâu tóm quyền lực, sửa lại Hiến pháp 2004, mà không nhân đà phục hồi kinh tế để cải tổ cơ chế vì ỷ vào hậu thuẫn của các tài phiệt và vây cánh được ban phát quyền lợi. Khủng hoảng chính trị xuất phát từ đó và triệt tiêu luôn thành quả kinh tế của hai năm 2010 và 2011. Qua năm 2013 thì kinh tế lại lụn bại. Đấy là bối cảnh của ba tháng biến động vừa qua.
- Khi đó, ta nhớ là mỗi khi Ukraine gặp khó khăn kinh tế, như trong các năm 1998, 2008, 2010 hay 2013, thì Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đều có dự án yểm trợ tài chính để giải quyết yêu cầu về chi thu, với điều kiện là phải cải cách cơ chế kinh tế. Mà ngần ấy dự án viện trợ đều bị gián đoạn vì các chính quyền nối tiếp tại Ukraine đều không tuân thủ điều kiện của IMF.
- Với lãnh đạo Ukraine thì IMF đòi họ làm một cuộc giải phẫu đau đớn mà không có thuốc mê, trong khi Liên bang Nga lại viện trợ cho họ như người cung cấp nha phiến. Sự chọn lựa sau cùng thuộc về người dân Ukraine.

 

Thuốc bổ và thuốc độc

Vũ Hoàng: Ông vừa nêu một nhận xét thấm thía. Thế thì bên dưới những thống kê và tính toán của tầng lớp lãnh đạo, quần chúng Ukraine nghĩ sao về thuốc bổ và thuốc độc, và họ muốn gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin nêu vài chi tiết sau đây để chúng ta suy luận về ý dân.
Người ta cần ổn định thị trường và trấn an dân chúng trong khi lãnh đạo Ukraine phải làm một cuộc cách mạng thật về chính trị để có một chế độ dân chủ và lành mạnh hơn. Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Ta biết Ukraine là biên địa Đông-Tây của Âu Châu. Phía Tây từng là lãnh thổ của các Đế quốc Ba Lan hay Hung Áo và người dân tự nghĩ mình thuộc về Âu Châu, trong khi các tỉnh phía Đông, và phía Nam nếu kể cả Odessa và bán đảo Crimea được ông Krushchev trả cho Ukraine từ năm 1954, thì thiên về nước Nga, đa số người dân nơi đây nói tiếng Nga. Sự giằng xé ấy đã có từ cả trăm năm và các tỉnh phía Tây, nhất là Lviv ở sát Ba Lan, là cái nôi của chủ nghĩa dân tộc Ukraine, theo tinh thần đề cao ngôn ngữ và nghệ thuật Ukraine, và biệt lập với nước Nga. Khi Liên Xô tan rã năm 1991 thì cuộc vận động cho độc lập của Ukraine xuất phát tại đây.
- Nhưng từ khi trở thành nước Cộng hoà Xô viết năm 1922, miền Đông của Ukraine mới là nơi giàu có vì tập trung hệ thống công nghiệp Xô viết. Cho đến ngày nay, tình trạng đó vẫn còn, với kết quả là lợi tức bình quân của người dân ở tỉnh công nghiệp hóa nhất miền Đông lại cao gấp đôi lợi tức người dân ở Lviv là tỉnh kỹ nghệ nhất miền Tây. Cũng vậy, đa số đại doanh nghiệp có tầm cỡ của Ukraine đều ở tại miền Đông, trong khi các doanh nghiệp loại trung bình và nhỏ thì phá sản dần từ mấy năm qua và tầng lớp gọi là "trung lưu" bị thiệt hại nhất là ở miền Tây.
- Nói vắn tắt thì dân miền Tây lại nghèo hơn dân miền Đông. Nhưng họ nghèo mà không hèn vì từ 20 năm nay vẫn đấu tranh để ra khỏi quỹ đạo của Nga, trở thành một quốc gia độc lập trong hệ thống chính trị dân chủ của Âu Châu. Trong khi ấy, ta không quên rằng cơ quan IMF, hay các nước Tây phương, lại đặt ra những điều kiện cải cách khắt khe về kinh tế lẫn chính trị như đòi giải phẫu mà chẳng có thuốc mê.
- Ngược lại, cần nói thêm cho công bằng, là dân miền Đông nói chung cũng chẳng muốn xé đôi xứ sở để thành một tỉnh của Nga. Đám tài phiệt và các đại gia ở trên cùng, tại thủ đô Kiev và các tỉnh miền Đông, có thể muốn trục lợi cho mình nhờ làm ăn với tài phiệt Nga chứ họ chẳng thể chủ trương sát nhập vào Liên bang Nga vì sẽ lập tức bị phản đối.
Vũ Hoàng: Khi ấy ta mới trở lại biến động ngày nay vì nó khởi đi từ một quyết định của ông Yanukovich vừa bị truất phế. Phải chăng biến động bùng nổ cũng vì sự chọn lựa Đông Tây đó?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi lại xin nhắc về bối cảnh quốc tế của vụ này dù là nó khá rắc rối.
- Là một nạn nhân chết kẹt giữa Nga và Đức, Ba Lan rất thông cảm với hoàn cảnh Ukraine nên từ năm 2009 đã đề nghị Liên hiệp Âu châu mở ra kế hoạch gọi là "Kết ước Miền Đông" để lôi kéo các nước Đông Âu và Trung Âu về phía Âu Châu, trong đó dĩ nhiên là có Ukraine. Các nước Âu Châu tiến hành kế hoạch đó và thương thảo Hiệp định Hợp tác Ngoại thương với Ukraine. Năm ngoái, Quốc hội Ukraine cũng bỏ phiếu ủng hộ việc thương thuyết này. 
000_Par7798255.jpg
Đụng độ giữa đoàn biểu tình với cảnh sát tại thủ đô Kiev của Ukraina 
hôm 20/02/2014, khiến ít nhất 25 người thiệt mạng.
- Phía bên kia, Tổng thống Vladimir Putin của Nga thì có kế hoạch khác. Là thiết lập Liên minh Quan thuế Âu Á làm lực đối trọng với Liên hiệp Âu châu. Do Nga lãnh đạo, Liên minh này gồm các nước Đông Âu trong quỹ đạo Xô viết cũ qua tới Trung Á và Viễn Đông, kể cả Trung Quốc và Việt Nam, với tiêu chí hình thành là vào năm 2015. Trong một chương trình hồi Tháng Chín năm 2012, chúng ta đã đề cập tới chuyện này.
- Cơ sự bùng nổ hồi Tháng 11 năm ngoái, khi Tổng thống Viktor Yanukovich đơn phương từ chối ký kết Hiệp định Ngoại thương đã bàn thảo và chuẩn bị ký kết vào ngày 21 tháng đó tại Vilnius. Vào lúc cùng quẫn đó, Liên bang Nga lại hứa viện trợ cho Ukraine 15 tỷ đô la. Vì vậy, sinh viên đã trước tiên biểu tình phản đối rồi các lãnh tụ đối lập đều tham gia với sự ủng hộ của các nước Âu Châu và cả Hoa Kỳ.
- Nhưng từ thủ đô Kiev cuộc biểu tình đã lan rộng qua năm sáu tỉnh khác vì người dân không chỉ phản đối sự chọn lựa của Yanukovich mà còn bất mãn về nạn tham ô, chuyên quyền và về tình hình kinh tế. Khi Chính quyền Yanukovich ra lệnh đàn áp và có máu đổ trong tiếng súng nổ thì biểu tình bạo động đã biến thành cách mạng. Quốc hội Ukraine nhân danh Hiến pháp 2004 và còn đi xa hơn bản Hiếp pháp để truất phế và truy nã Tổng thống, với lá phiếu ủng hộ của đảng cầm quyền của chính ông Yanukovich.
Vũ Hoàng: Thưa ông, kết quả là chính quyền lâm thời đang đối diện với nguy cơ khủng hoảng kinh tế và cần 35 tỷ đô la để giải quyết những yêu cầu tài chính cấp bách nhất vì dự trữ ngoại tệ của Ukraine bị hao hụt và xứ này có thể vỡ nợ. Rồi đây thì tình hình sẽ ra sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng các nước trong cuộc, từ Liên bang Nga đến Âu châu đều muốn tránh một cuộc khủng hoảng, nội chiến và xung đột ngay giữa Âu Châu. Âu Châu cũng khôn ra mà không đòi Ukraine phải làm một cuộc giải phẫu, dù là có thuốc mê cho đỡ đau. Người ta cần ổn định thị trường và trấn an dân chúng trong khi lãnh đạo Ukraine phải làm một cuộc cách mạng thật về chính trị để có một chế độ dân chủ và lành mạnh hơn.
- Không mấy ai lạc quan về tình hình Ukraine trong những ngày tháng tới, riêng tôi thì có khi lại nói ngược. Tôi chú ý đến một hiện tượng không có trong các biến động từ 1991 đến nay, đó là sự hình thành của xã hội dân sự. Khi chính quyền nhiều nơi tan rã, không còn công an hay cảnh sát và cả lãnh đạo địa phương, người dân tự động đứng ra lo việc cứu thương, chữa cháy, bảo vệ trật tự, tính mạng và tài sản của cả khu phố. Khi nói đến viện trợ và cải cách kinh tế, có lẽ ta nên chú ý đến việc xây dựng xã hội dân sự từ dưới lên. Chính quyền tương lai của Ukraine sẽ từ đấy mà ra.
Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.

Thứ Sáu, 17 tháng 1, 2014

Cải cách TCB?

TRÍCH ĐOẠN BÀI NÓI MẠNH CỦA TẬP CẬN BÌNH TẠI HỘI NGHỊ PHÁT TRIỂN CẢI CÁCH MỚI ĐÂY
(Đang được lưu truyền trên mạng, độ tin cậy khá cao)

http://boxun.com/news/gb/china/2014/01/201401170156.shtml#.Utj53_t021s

Chúng ta không phải là không cải cách, mà là phải cải cách thực sự, thực sự làm cho quần chúng hài lòng, để có thể giải phóng và nâng cao thêm một bước cuộc cải cách sức sản xuất. Còn cái gọi là cải cách trong những năm gần đây thì sao? Lại đã trói buộc sức sản xuất, mô hình phát triển kinh tế dị dạng, nguy cơ môi trường chồng chất, đã ở vào bước đường cùng.
Chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn. Đây không phải là vấn đề về năng lực lao động, mà là do chế độ không công bằng về cơ hội và quyền lợi, phân phối tạo nên. Chúng ta luôn nói phải trao quyền cho xã hội, phải giải phóng sức sản xuất, thực hiện sự phát triển bền vững và ổn định xã hội dài lâu, song làm đâu có nổi, bởi bàn tay đen của một vài nhóm lợi ích trong Đảng đã xòe ra quá rộng. Miếng thịt mà hổ đã ngoạm vào mồm rồi có chịu nhả ra không? Chỉ còn cách phải đả hổ thôi.
Nếu chỉ dựa vào công cụ chuyên chính để đàn áp, không cho quần chúng nhân dân phát ngôn, thì chẳng phải là đã làm cho Đảng chúng ta với quần chúng nhân dân trở thành đối lập sao? Cho nên, gần đây chúng ta mới nêu phải cùng nhau làm giàu, vậy cùng nhau làm giàu sao đây? Trước tiên cần thực hiện bình đẳng cơ hội, công chính tư pháp, công bằng xã hội. Mà tất cả những điều này đều phải cần đến các chính sách cải cách và bảo đảm pháp chế tương quan.
Chúng ta nói đến Giấc mộng Trung Quốc, đầu tiên phải để cho dân chúng cả nước đều được sống tôn nghiêm, song sự phân cực trong xã hội hiện nay ngày càng nghiêm trọng, những người vô quyền vô thế dưới đáy sao có thể sống tôn nghiêm nổi? Cứ để như thế này, xã hội sẽ biến chất, và nhất định sẽ nảy sinh vấn đề lớn, sẽ đại loạn. Những điều ấy tới vào lúc nào, đâu có thể xoay chuyển được bởi ý chí của một số người nào đó.
Hiện nay, một vài nhóm lợi ích và bộ phận quyền lực trong Đảng đang ngăn trở việc soạn thảo, cho ra mắt và thực hiện các chính sách cải cách và qui định pháp luật. Hiện đã hình thành một bộ phận người đầu tư xong rồi dùng mánh khóe mà giàu lên, nhưng lại vẫn muốn cản trở không cho nhiều người khác làm giàu theo. Bằng quyền lực trong tay và nguồn tài nguyên chung, họ đã tước đoạt không gian phát triển của nhiều người khác.
Không có cái kiểu quan chức và quyền lực lại thao túng quyền nói năng cải cách, cải cách là do Trung ương Đảng chúng ta lãnh đạo, là sự nghiệp phát triển xã hội có nhân dân cả nước tham dự. Cải cách thế nào cũng phải để cho dân chúng phát biểu ý kiến, thậm chí cần để cho quần chúng nhân dân cả nước định đoạt!
Xem ra, muốn cải cách thì cần phải cải cách trước hết những "nhà cải cách" này! Phải thay đổi não trạng họ trước, nếu không được, thì thay luôn vị trí của họ!
Hiện có một số người đã coi ngọn cờ cải cách là miếng da hổ, không để cho quần chúng nhân dân được nói và bình luận. Tôi thấy có người đã giương ngọn cờ cải cách để chống lại cải cách.
Tuyệt đại bộ phận những người thuộc tả phái, hữu phái đều là những công dân yêu nước thực lòng. Họ cao thượng hơn, vĩ đại hơn loại nhân dân giương ngọn cờ cải cách để tham nhũng tước đoạt, giương ngọn cờ của Đảng và chính phủ để uy hiếp dân lành, những quần chúng nhân dân này mới là chủ thể và nguồn năng lượng dương để thúc đẩy phát triển xã hội.
Chẳng lẽ chúng ta lại giấu bệnh không chữa sao? Cần chi viện quần chúng nhân dân giúp cho một vài quan liêu đen trong Đảng soi mình vào gương, tắm táp cho sạch. Đảng kỉ quốc pháp của chúng ta cũng đang chuẩn bị động dao để trị bệnh cho họ. Những người suốt ngày chụp mũ, quất gậy vào quần chúng nhân dân hãy tự mình soi vào gương trước đi, để xem mình có phải là con yêu quái dài đuôi không.
Giải phóng quân và bộ đội vũ trang là hậu thuẫn vững chắc của chúng ta. Nếu một vài người còn lóa mắt vì lợi, tham lam vô đáy, không biết hối cải, thì theo tôi, dưới ngọn cờ của tư tưởng Mao Trạch Đông, quần chúng nhân dân phải hỏi tội họ, phải vận động họ. Về điểm này, tôi hoàn toàn đứng về phía quần chúng nhân dân.
Có những người bảo tôi nêu ra hai cái 30 năm đã đều không phủ định, là làm hai cái "phàm là", song sự thực thì sao, một số nhóm lợi ích trong Đảng đã trói buộc cải cách, đã biến cải cách thành chiêu bài của gia đình họ. Không để cho người khác nói, không để cho quần chúng nhân dân bình luận, vì thế theo tôi, cái gọi những "phái cải cách" này mới thực sự là làm cái "phàm là" mới.
Hiện giờ thì sao, một vài bộ phận quyền lực nào đó đã trở thành đại lão hổ khoác lên mình miếng da hổ cải cách, lại còn không cho ai sờ được vào mông mình. Vậy nên, chúng ta phải trợ giúp quần chúng nhân dân vạch miếng da hổ ấy ra, để xem những người này rút cuộc đang làm "cải cách" gì, là lừa hay ngựa, phải kéo toạc ra.
Quần chúng nhân dân nghi ngờ cải cách là liền chụp mũ, quất gậy vào người ta, nói người ta là muốn làm Đại cách mạng văn hóa, nói người ta là phản cách mạng, là thế lực thù địch. Dân chúng ngày càng bất mãn với cải cách chính là vì một con ruồi đã làm hỏng cả nồi canh, đã làm hỏng cả con đường cải cách. Những người này mưu đồ dùng vải thưa che mắt thánh, song trong lòng dân chúng cũng đều đã có một đòn cân, một chiếc gương soi.
Không phải Trung ương Đảng chúng ta không nhận thức ra vấn đề, không phải chúng ta không có phương án tốt, mà là không có cách gì thực hiện nổi, thực hiện không được, không sờ được vào mông hổ của một số người, một bộ phận quyền lực.

Thứ Hai, 13 tháng 1, 2014

Câu chuyện của niềm tin

Câu chuyện của niềm tin (6/02/2013)
Giáp Văn Dương
1. Như bao bạn trẻ khác, tôi rời quê khi học hết phổ thông. Rồi cũng như bao người khác, tôi ra nước ngoài học tiếp khi xong đại học.

Gần mười hai năm học tập và làm việc ở nước ngoài, tôi có bạn bè mới, thầy cô mới, đồng nghiệp mới. Trong công việc không có định kiến, không có phân biệt. Tất cả diễn ra trong một sự trung thực và cởi mở hồn nhiên. Hồn nhiên đến mức ngạc nhiên.

Tôi chìm đắm trong bầu không khí dân chủ, bình đẳng và tinh thần tự do học thuật. Tôi thấy mình được tôn trọng, và ý thức được mình có quyền được người khác tôn trọng.

Tôi phải làm đủ thứ giấy tờ nhưng không bao giờ thấy những con dấu đỏ. Chỉ cần một chữ ký cá nhân là đủ, một cuộc điện thoại, một lá email là xong. Không ai hạch sách, không ai đòi kiểm tra, không ai đòi công chứng bản gốc.

Tôi lên tàu điện: không có người soát vé. Họ tôn trọng chúng tôi, và tin chúng tôi. Thỉnh thoảng họ có đi kiểm tra định kỳ thì cũng rất lịch sự, không gây cho mình cảm giác khó chịu.

Tôi ra siêu thị: không ai bắt tôi phải gửi đồ trước khi vào mua hàng. Không ai kiểm tra chúng tôi khi ra. Họ tôn trọng chúng tôi, và tin chúng tôi.

Tôi và một người bạn đi mua bảo hiểm xe. Điều khoản cho biết, nếu mất xe thì sẽ được đền xe mới. Bạn tôi hỏi: nếu chúng tôi bán xe rồi báo mất thì sao? Nhân viên bảo hiểm ngạc nhiên mất một lúc lâu mới nghĩ ra được câu trả lời: tôi tin các anh không làm thế.

Lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự tin tưởng mang tính hệ thống. Một sự tin tưởng cá nhân mạnh mẽ lan tỏa trong toàn xã hội. Chữ Tín được xác lập mà không cần sự có mặt của các loại công chứng bản gốc, chứng thực, xác nhận... 

Tôi vỡ ra: À, ra thế. Họ giàu mạnh vì họ tin ở con người.

2. Mười hai năm sau tôi trở về. Nhiều cái như xưa. Nhiều cái hơn xưa. Nhưng cũng nhiều cái tệ hơn xưa.

Tôi làm thủ tục nhận đồ mình gửi cho mình. Tên tôi đây. Địa chỉ tôi đây. Hộ chiếu của tôi đây. Vậy sao mà rắc rối đến vậy? Sao phải xác nhận? Sao phải chứng minh? Sao phải công chứng bản gốc?

Tôi có làm gì đâu, chỉ là nhận đồ mình gửi cho mình thôi mà sao phức tạp như vậy. Lẽ ra tôi chỉ chờ ở nhà, đúng hẹn công ty vận chuyển sẽ mang đồ đến. Tôi chỉ cần ký xác nhận là xong.

Tôi được giải thích ở Việt Nam mọi thứ cần phải đúng quy trình chứ không đơn giản như vậy.
Tôi ngẫm ra: Càng nhiều dấu đỏ, càng ít niềm tin.

3. Tôi đưa gia đình đi siêu thị Big C Long Biên. Niềm vui khi thấy một siêu thị bề thế, nhộn nhịp vừa mới nhen lên thì gặp ngay một chuyện ngỡ ngàng: Tất cả những ai muốn vào siêu thị đều phải gửi đồ bên ngoài. Con gái tôi có một túi khoác nhỏ để đựng mấy thứ lặt vặt cũng phải niêm phong rồi mới được mang theo.

Vì sao vậy? Chúng tôi hỏi thì chỉ nhận được câu trả lời: Đây là quy định!

Quy định gì? Quy định không được tin nhau.

Câu chuyện có lẽ sẽ chỉ là một phiền toái buồn, nếu không có chuyện sau khi thanh toán, tất cả khách hàng lại bị kiểm tra một lần nữa, và hóa đơn phải được đóng dấu đỏ “đã thanh toán” thì mới được nhân viên an ninh cho ra ngoài.

Chúng tôi tự hỏi: chuyện quái quỉ gì đang xảy ra vậy? Quầy thanh toán có hai nhân viên kiểm tra và tính tiền. Từ quầy thanh toán ra đến cửa ra này chỉ chừng 2 mét, lại không có hàng hóa gì bày bán trên đoạn đường 2 mét đó. Vậy cớ sao phải kiểm tra lại? Cớ sao phải đóng dấu vào hóa đơn thì mới được ra?

Vợ tôi phản ứng dữ dội: Nếu kiểm tra mà không tìm thấy sai sót nào thì các anh có xin lỗi chúng tôi không? Nhưng chúng tôi chỉ nhận được một câu trả lời lạnh lùng: Đây là quy định.

Tôi nhìn những người xếp hàng chờ kiểm tra và đóng dấu hóa đơn. Tất cả đều kiên nhẫn và ngoan ngoãn. Họ có thể làm gì trên đoạn đường dài 2 mét đó để phải chịu cảnh khám xét?

Tôi lặng lẽ quan sát. Rất nhiều người lớn tuổi. Lịch sử như phảng phất qua bộ quân phục cũ. Một vài nụ cười cầu hòa dù chủ nhân không làm gì sai. Một vài ánh mắt lấm lét không có lý do. Nhiều gương mặt cam chịu và chờ đợi cảnh được khám xét.

Tôi cố gắng tìm lý do để biện minh cho việc làm kỳ quái đó, nhưng không thể.

Tôi rút ra kết luận: Nhiều người Việt không tin người Việt. Nhiều người Việt không hiểu rằng mình có quyền phải được người khác tôn trọng.

4. Chúng tôi ra về, nhưng vẫn ám ảnh câu hỏi: Vì sao người Việt không tin nhau? Phải chăng chúng ta đã quen sống trong một sự cảnh giác thường trực đến độ thành phản xạ có điều kiện?

Tôi bất giác nhớ đến mớ giấy tờ đỏ choét những con dấu công chứng sao y bản gốc. Tôi tự hỏi: Tôi và triệu người quanh tôi đã mất bao nhiêu thời gian cho những thứ này?

Tôi thở dài: càng nhiều dấu đỏ, càng ít niềm tin.

Tôi tự hỏi: Phải chăng đang có một cuộc “khủng hoảng niềm tin”?

Và khi nào thì người ta không tin nhau?

Rõ ràng là khi có sự dối trá. Người ta không tin nhau khi cần phòng tránh sự dối trá.

Vậy là đang có một sự dối trá phổ biến, đến mức một đoạn đường 2 mét và được kiểm soát chặt chẽ cũng trở nên đáng ngờ.

Và chúng ta đã mất biết bao nhiêu thời gian và nguồn lực để cảnh giác, phòng tránh, đương đầu với sự dối trá này?

Không ai thống kê định lượng, nhưng chắc hẳn là rất nhiều. Nhiều đến mức có thể làm cho đất nước ta kiệt quệ. Kiệt quệ vì luôn phải cảnh giác, đề phòng.

5. Việt Nam đang rất cần một sự quy tụ nguồn lực để phát triển. Nhưng quy tụ làm sao khi cả xã hội sống trong tâm trạng cảnh giác thường trực, lúc nào cũng nơm nớp đề phòng? Quy tụ làm sao khi sự giả dối đã trờ thành một lối sống của xã hội? Quy tụ làm sao khi niềm tin giữa người với người đã trở nên cạn kiệt?

Việt Nam đang rất cần hội nhập, rất cần làm bạn với thế giới bên ngoài. Nhưng hội nhập làm sao khi luôn nhìn thế giới bên ngoài với con mắt thù địch nghi ngờ? Làm bạn làm sao khi không có lòng tin vào đối tác của mình?

Đất nước đã thống nhất nhưng lòng người chưa thống nhất. Di sản của mấy mươi năm chiến tranh quá đỗi nặng nề. Trong này kinh tế khó khăn. Ngoài kia Biển Đông nổi sóng. Một cuộc hòa giải, để sau đó thực sự có một sự hòa hợp Nam Bắc, trong ngoài là cần thiết hơn bao giờ hết. Muốn vậy cần xóa bỏ mọi nghi kỵ lẫn nhau giữa mọi tầng lớp xã hội.
***
Nhiều học giả đã gọi niềm tin là một thành phần quan trọng của vốn xã hội. Khi niềm tin cạn thì vốn xã hội cũng cạn theo. Mà cạn vốn thì làm sao phát triển?
 
 Hy vọng những đốm lửa nhỏ, cần mẫn (13/01/2014)
TS Giáp Văn Dương
Cả một thành phố bảy, tám triệu dân, hơn cả một nước người ta, vậy mà nhàm chán một cách không thể tưởng tượng được. Cuộc sống trở nên tầm thường và vụn vặt không thể tả.
Cạn kiệt niềm tin

Cũng khoảng giờ này năm ngoái, khi mới chân ướt chân ráo trở về, sau khi có trải nghiệm thực tế, tôi có viết một bài báo nhỏ có tiêu đề: Câu chuyện của niềm tin.

Đại thể, tôi kể lại những va chạm thực tế để thấy rằng, mất niềm tin đang là cái đáng lo ngại nhất trong xã hội Việt Nam dưới con mắt của người mới nhập cuộc. Vì thiếu niềm tin nên mọi việc bỗng trở nên khó khăn và tốn kém gấp bội. Cuộc sống bỗng trở nên toàn màu xám. Con người căng thẳng, hiệu năng làm việc thấp vì hợp tác kém, mà lý do chính là không tin nhau, nên dành thời gian kiểm soát nhau vì phối hợp làm việc chung.

Ngay lúc đó, tôi đã nhận ra rằng: Một trong những vấn đề lớn nhất mà xã hội này phải đương đầu là sự mất niềm tin trầm trọng. Niềm tin giữa người dân và chính quyền, giữa người dân và doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với nhau, tóm lại giữa người và người, và đặc biệt là niềm tin vào bản thân mình.

Sau đó, mỗi khi gặp mặt, ngay cả với giới tinh hoa, giữa những than thở, hay đằng sau ánh mắt xa xăm, là một sự chán nản và khắc khoải. Rất ít hy vọng và lòng tin trong các câu chuyện. Sau những lần như thế, tôi thấy rất mệt mỏi. Sinh lực dường như đã bị rút hết đi, đến mức nhiều khi sợ gặp gỡ, vì sợ phải nghe những lời than như vậy.

Trong số những người tôi quen biết mỗi người chọn một cách phản ứng khác nhau. Nhiều người chọn sự cam chịu. Nhiều người lảng tránh, lảng tránh thực tại, lảng tránh nhìn vào mắt đối diện.

Nhiều người giết thời gian trên bàn nhậu. Có tiền thì nhậu sang, ít tiền thì bình dân. Thanh niên ít tiền hơn thì giết thời gian trong các quán trà đá vỉa hè.

Người không thích nhậu, hoặc không đủ sức để nhậu hoặc không có tiền để nhậu thì vùi mình vào các trang lá cải, mỗi ngày ngốn hàng chục bài tin tức, na ná như nhau vô thưởng vô phạt. Sau đó bức xúc một hồi, càm ràm hoặc nặng hơn là chửi đổng vài câu rồi lại vùi đầu đọc tiếp.

Nhiều người bức xúc quá có phản ứng mạnh. Nhưng như con cá nằm trên lưới, càng giẫy giụa càng đau đớn. Nên sau mỗi hồi mệt mỏi cũng đến lúc nằm im "makeno".

Kinh tế khó khăn, tinh thần bức bối, đặc biệt phát ngôn của các quan chức, các nhà làm chính sách bỗng trở nên đáng ngờ. Các mạng lưới hoạt động trong xã hội giờ chỉ còn quan hệ huyết thống đáng tin cẩn.Vì thế, vun vén cho gia tộc xây dựng nhà thờ họ, đã trở thành một trong lối sống của những người có địa vị trong xã hội.

Xã hội như vận hành bởi bộ tiêu chuẩn kép. Ai cũng biết vậy mà không phải vậy. Không phải vậy mà vẫn là như vậy.Nên ở cơ quan sống theo một chuẩn khác, về nhà lại một chuẩn khác nữa. Mỗi người phải đóng quá nhiều vai diễn, đến mức mệt mỏi kiệt quệ, mà không biết để làm gì.

Chưa bao giờ các hoạt động tâm linh cúng bái lại phát triển như hiện giờ, bất chấp khoa học đã phát triển nhiều hơn so với hàng chục năm về trước, thông tin cũng phong phú hơn nhiều.Vì sao vậy? Vì người ta không tin ở con người, nên đành tìm đến nơi thánh thần, dù biết rằng cũng nhiều kẻ lợi dụng việc này để trục lợi.

Nhiều lần đi qua các quán nhậu ven đường, tôi đã tần ngần tự hỏi: sao trong giờ làm việc lại đông người lang thang quán xá đến như vậy?

Những nơi tôi đi qua không ở đâu thấy đông thanh niên trai tráng ngồi lê la vỉa hè, cắn hạt bí, hạt hướng dương, uống nước chè, tập tành hút thuốc lào, nói bậy và chửi đổng... nhiều như trên vỉa hè Hà Nội, đặc biệt là các nơi cổng trường đại học.

Không ai nói chuyện khoa học, văn chương. Không ai quan tâm đến bảo tàng, triển lãm. Không ai bàn tán về các thành tựu khoa học, nhân văn mới. Không ai đả động đến ước mơ hay khát vọng.

Những buổi nói chuyện dành cho đại chúng về các chủ đề rất mới, do các học giả nổi tiếng thuyết trình, cũng không có nổi đến vài chục người tham dự. Mà nếu có thì vẫn những khuôn mặt ấy. Rất cũ!

Cả một thành phố bảy, tám triệu dân, hơn cả một nước người ta, vậy mà nhàm chán một cách không thể tưởng tượng được. Cuộc sống trở nên tầm thường và vụn vặt không thể tả.

Trên mặt bằng truyền thông thì còn những tệ hại hơn nhiều. Nếu rút tất cả những tin liên quan đến chuyện hở hang, chém giết, sốc, sex, giật gân thì bỗng thấy nhiều tờ báo sụp cái rầm vì trống trơn bài vở.

Một năm trôi qua, câu chuyện lại có phần thêm u ám. Một xã hội thiếu hụt niềm tin mỗi ngày thêm hiển hiện rõ nét qua từng việc cụ thể chứ không chỉ là cảm giác như ngày nào.

Mỗi khi cầm một xấp giấy tờ với chồng chất dấu mộc đỏ choét tôi không khỏi ngần ngại. Chưa ở đâu tôi thấy những văn bản giấy tờ cần nhiều dấu đỏ như vậy, qua nhiều cửa ải xét duyệt như vậy. Nhưng cũng chưa ở đâu sự giả mạo trở nên phổ biến, được giao bán công khai như ở đây.

Cái nguy hiểm của sự mất niềm tin này là sự bào mòn sinh khí. Nếu như sự sợ hãi làm cho con người ta co cụm, đến một lúc nào đó có thể tạo ra một sự phản ứng đủ mạnh để vượt qua, thì mất niềm tin không gây ra một cảm xúc mạnh như vậy. Nó chỉ là đơn giản là làm mất hết sinh khí, vì người dân không còn tin vào công lý, không tin vào chính quyền, không tin ai, và không tin ngay cả chính bản thân mình.


Kiệt quệ vốn xã hội

Còn nhớ mỗi khi bàn về vốn xã hội, tuy có nhiều cách tiếp cận và lý giải khác nhau, nhưng chúng tôi đều thống nhất ở một điểm: Niềm tin nằm ở trái tim của vốn xã hội. Đó là niềm tin giữa người với người, người với thể chế, người với chính bản thân mình.

Vậy là niềm tin, một khái niệm xa lạ với môn kinh tế học phát triển, đã có được chỗ đứng đàng hoàng trong lòng nhiều nhà kinh tế học.

Niềm tin đã trở thành một thứ vốn của xã hội. Mà đã là vốn thì có thể dùng để sinh lợi. Trong trường hợp này, niềm tin đã trở thành một thứ tài sản giúp cho xã hội hoạt động trơn tru hiệu quả hơn, chi phí giao dịch vì thế mà ít đi.

Khi có niềm tin thì việc gì cũng suôn sẻ dễ dàng. Điều này đúng quy mô cá nhân, đúng cả quy mô quốc gia.

Các chính trị gia lão luyện Đông Tây kim cổ đều đặt vấn đề xây dựng lòng tin với với dân mình lên hàng đầu. Ngay ở Việt Nam cũng có những ví dụ này từ xa xưa trong lịch sử. Tương truyền, để dân tin vào cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi, trong lúc binh yếu lực mỏng, Nguyễn Trãi đã cho dùng mật mỡ viết lên tám chữ: Lê Lợi vì quân, Nguyễn Trãi vi thần lên lá đa. Kiến thấy vậy bu vào đục thành chữ. Người dân đọc được thì tin rằng đây đúng là mệnh trời. Bài học vỡ lòng dành cho các chính trị gia xem ra vẫn còn điều xa lạ.

Tất nhiên, bên cạnh niềm tin, thì vốn xã hội còn thêm các yếu tố khác nữa. Có thể kể hai trong các số đó: thói quen tập tục, truyền thông văn hóa ứng xử; và sự phong phú lành mạnh của các hội đoàn, tức của mạng lưới xã hội dân sự.

Tiếc rằng, cả hai yếu tố này cũng rất yếu. Đút lót hối lộ dường như đã trở thành văn hóa, gọi là văn hóa phong bì. Sự giả dối đã tràn vào cả trường học, nên bị gọi là "nỗi buồn lớn ngành giáo dục"

Cuộc khủng khoảng kinh tế kéo dài suốt mấy năm nay lại càng làm cho vốn xã hội thêm kiệt quệ. Lẽ ra nếu có một vốn xã hội thắt lưng đủ đầy, người dân sẽ dễ vượt qua những thời khắc khó khăn hơn. Vì tin nhau, tin vào quan chức và chính sách chung. Đằng này quan chức nói gì, dân chúng lại bảo nhau làm ngược lại.

Kinh tế rối loạn, lòng người hoang mang. Khó khăn càng thêm chồng chất không biết đến bao giờ mới gỡ được.

"Mất tiền là mất ít, mất bạn là mất nhiều, nhưng mất lòng tin là mất tất cả". Người xưa đã tổng kết như vậy, nên thấy thực trạng này, không ai tránh khỏi sự buồn rầu.

Nhiều lúc nhìn xã hội như mớ bòng bong, không biết lần ra đằng nào. Mà lần ra được rồi thì cũng không gỡ ra được vì nó xoắn xuýt chặt chẽ vì lợi ích, vì bè phái, vì u mê.

Nguyên nhân vì đâu? Tất nhiên là vì cơ chế. Ai chả nói thế. Dễ nhất và trúng nhất. Nhưng cơ chế do ai làm ra? Tất nhiên là do con người, trong đó có tôi và bạn.

Nhưng cụ thể hơn, đó là cái gì của tôi và bạn? Sức khỏe, văn hóa, tri thức, học vấn, kỹ năng, tinh thần sáng tạo, ước mơ khát vọng, lòng quả cảm, sự dấn thân... hay còn gì khác nữa?

Câu trả lời là tất cả.

Đến đây lại thêm giật mình. Thì ra mọi thứ chưa tốt như mong đợi cũng có phần ta đóng góp. Vậy nên, thay vì trông chờ vào một sự thay đổi lớn hãy chủ động tạo ra những sự thay đổi nhỏ trước đã.

Nếu không thay đổi được đời, thì thay đổi ta trước vậy. Khi những ngọn đuốc lớn đã không thể cháy thì chỉ còn hy vọng vào những đốm lửa nhỏ, kiên nhẫn và cần mẫn.

Nhiều việc nhỏ góp lại sẽ thành việc lớn. Xưa nay vẫn thế, có cách nào khác được.