Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013

Bài Kinh Tế Vỡ Lòng Từ Trung Quốc




Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 131125
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"

Thương Phẩm, Thương Nhân và Khi Trung Quốc Bị Thương

 * Đống xương vô định sắp cao bằng đầu *



Khi dân chúng Hoa Kỳ chuẩn bị Lễ Tạ Ơn vào cuối Tháng 11, giới kinh tế chuẩn bị tổng kết tình hình kinh tế của năm sắp hết và dự đoán viễn ảnh cho năm tới. Bài viết này cũng không ra khỏi thông lệ. Nhưng theo truyền thống của người viết, sẽ lại nói ngược!

Cách nay năm năm, Tháng 11 năm 2008, các thị trường chứng khoán trên thế giới theo nhau đổ dốc sau vụ khủng hoảnh tài chính tại Mỹ vào Tháng Chín. Khi ấy, Nữ hoàng Anh Elizabeth II tới khánh thành một công thự mới của trường London School of Economics nổi tiếng toàn cầu. Dự lễ khai mạc, bà ngồi nghe các giáo sư đọc diễn văn đầy chất khoa bảng uyên bác. Đến lượt mình, nhân vật cẩn trọng và khiêm tốn ấy làm đúng bổn phận, rồi chỉ nhẹ nhàng nêu câu hỏi: "Vì sao chẳng ai đoán ra chuyện này vậy?" Trong cử tọa của trường LSE, và sau này, chưa ai có thể trả lời câu hỏi thường thức của một bà già trầu văn minh!

Người viết kể lại như vậy là để xin giao hẹn trước là... có thể đoán trật.

Chuyện ấy cũng khiến ta chú ý đến sự kiện là thị trường cổ phiếu Hoa Kỳ đang lên tới đỉnh kỷ lục. Vậy mà kinh tế chưa hồi phục, nhiều tiểu doanh nghiệp vẫn xanh xám mặt mày, giới trẻ bị thất nghiệp và dân nghèo phải lãnh trợ cấp cũng lên tới kỷ lục khác. Người viết kể lại như vậy cũng để giao hẹn trước là sẽ còn phải giải thích dài dòng... cho đến Tết!

Bây giờ, xin nói đến chuyện xa mà gần. Xa là chuyện thương phẩm, gần là hiệu ứng của kinh tế Trung Quốc, gần với Việt Nam.

Giới kinh doanh gọi chung các loại hàng cồng kềnh mua bán toàn cầu là "thương phẩm", dịch từ commodities. Người Hà Nội đi vào kinh tế thị trường, mà theo "định hướng xã hội chủ nghĩa", thì vẫn dùng chữ lạc hậu từ khi còn đánh vần kinh tế chính trị học Mác-Lênin là "hàng hóa". Giải thích cho dễ hiểu, thương phẩm là nguyên nhiên vật liệu và nông sản, gồm xăng, dầu, kim loại, ngũ cốc, lương thực, v.v.... Giá cả loại hàng này ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt kinh tế của mọi quốc gia và lợi tức của mọi người, mà việc giao dịch mua bán lại quá phức tạp nên ít ai để ý. Một thí dụ gần gũi là giá vàng thì xin để kỳ khác.

Vì khó dự đoán được chiều hướng giá cả của thương phẩm, người ta nhìn vào quá khứ và nghiệm thấy giá thương phẩm có tăng giảm theo chu kỳ kéo dài vài chục năm. Tức là những gì tưởng đúng trong năm mười năm qua có thể lại trật trong vài năm tới, nên mới đực mặt khi bị Nữ hoàng vặn hỏi.

Thị trường thương phẩm toàn cầu đang dứt một chu kỳ và đi vào khúc quanh. Một lý do chính là hiệu ứng Trung Quốc. Hãy nghĩ đến quặng sắt – và các dự án bốc bậy mà ăn ở Tây Nguyên nước ta – như một thí dụ.

Khi Trung Quốc đi vào cải cách để công nghiệp hóa và đô thị hóa một xứ sở bát ngát lạc hậu thì nhu cầu về thương phẩm như sắt, thép, xi măng và đủ loại vật liệu đã gia tăng. Họ cần xây cầu xây nhà, làm đường, nuôi heo nuôi gà lấy thịt nuôi người nay đã ra khỏi trạng thái vặt mũi bỏ mồm. Số cầu gia tăng đột ngột từ vài chục năm nay đã đẩy giá lên trời. Các nước cung cấp và doanh nghiệp phân phối hay trao đổi thương phẩm đã kiếm lời lớn và còn dự đoán là hơn một tỷ người nay đang đứng dậy thì thị trường thương phẩm sẽ chỉ lên chứ không xuống.

Nếu người dân Trung Quốc cũng đi vào thời kỳ mua nhà rồi mua xe thì đà gia tăng ấy là tất yếu.

Người ta bước vào thị trường thương phẩm với sự lạc quan của kẻ đầu cơ, trước sự cổ võ của các doanh nghiệp đầu tư vào Trung Quốc. Quả nhiên là họ lời lớn khi lãnh đạo Bắc Kinh, từ trung ương đến địa phương, cũng lao vào đầu cơ và phóng tay xây dựng.

Trừ giới kinh tế bị mang tiếng là hay đoán trật, ít ai chú ý đến sự kiện là Trung Quốc chọn chiến lược lấy đầu tư làm đầu máy tăng trưởng. Với dân số kỷ lục là một tỷ 300 triệu người và mức đầu tư kỷ lục là phân nửa Tổng sản lượng GDP, kinh tế Trung Quốc có vóc dáng vĩ đại của lực sĩ đô vật được uống sâm và hù dọa cả thế giới.

Hai thí dụ rất gọn. Về quặng sắt, Trung Quốc ngốn mất 55% sản lượng thế giới và nhập vào đến 65% tổng số xuất cảng của thiên hạ. Về đậu nành hay các hạt làm ra dầu, Trung Quốc ăn hết 30% sản lượng toàn cầu và mua vào 65% số xuất cảng của các nước. Nói chung, từ năng lượng đến lương thực, tay lực sĩ này là đại gia mua đủ loại thương phẩm của cả thế giới nên được các thương nhân ca tụng ngất trời.

Nhưng chàng lực sĩ vai u thịt bắp với đôi tay vĩ đại như anh lính thủy Popeye trong truyện hoạt họa lại đứng trên đôi chân bằng ống sậy.

Nền kinh tế của kẻ uống sâm để đạp xe lại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cho nên dân chúng đạp xe, còn uống sâm là thẩm quyền của đảng, nhà nước và tay chân thân tộc. Chuyện bất công ấy không được thương nhân chú ý. Nhưng giới đầu tư chứng khoán thì biết tổng số nợ của doanh nghiệp Trung Quốc đã lên tới 134% Tổng sản lượng, so với gần 80% của một xứ tư bản giẫy chết là Hoa Kỳ.

Nói đến nợ nần, tổng số tín dụng của Trung Quốc lên tới mức báo động là gấp đôi tổng sản lượng, bên trong là sự kỳ ảo của thống kê kiểu Bắc Kinh: thực số của loại nợ xấu là một bí mật mà chính lãnh đạo cũng chẳng biết. Loại nghiệp vụ cho vay ngoại ngạch, ngoài khu vực ngân hàng và không sổ sách nên có đầy rủi ro là một nhược điểm khác. Một trái bom nổ chậm.

Còn thành tích đầu tư sản xuất làm thế giới trầm trồ là một hiện tượng đầy màu sắc Trung Hoa: huyền ảo như thành phố ma hay thương xá không người. Một khối tồn kho ế ẩm được bút ghi là sản lượng mà nằm chất đống giữa thiên nhiên. Trong khối tồn kho, có cả triệu tấn thương phẩm.

Vì vậy, giá thương phẩm tăng vọt từ 20 năm nay - mạnh nhất là trong 10 năm qua nhờ sức hút của Trung Quốc -  đã lên tới đỉnh. Khi đà tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc từ hai số bắt đầu giảm, và còn giảm, thì giá cả thương phẩm sẽ sụt. Y như lúc lên là tăng vọt thiếu sơ sở, khi sụt, giá sẽ sụt rất nhanh. Kinh tế Trung Quốc bị thương, nhiều thương nhân sẽ chết trước. Chuyện ấy đang bắt đầu....

Bài kinh tế vỡ lòng là quy luật cung cầu có chi phối giá cả. Về thương phẩm, số cung là khả năng đào đất, để trồng trọt hay khai thác hầm mỏ. Thời khoảng quyết định là từ vài năm đến chục năm. Số cầu có thể tùy vào sức hút của một xứ rất lớn như Trung Quốc, hay sức đẩy của các thương nhân buôn bán, trong mục tiêu đầu cơ để kiếm lời.

Một bài kinh tế vỡ lòng khác là con người ta là sinh vật biết suy tính, nhờ vậy mà cải tiến khả năng giải quyết bài toán kinh tế căn bản là sự khan hiếm. Từ cả ngàn năm nay, một tạ gạo hay một tấn quặng thì chẳng có gì thay đổi, trừ một việc là có giá thành rẻ hơn. Từ chuyện ngàn năm suy ra tương lai trước mắt, ai cũng có thể thấy rằng giá thương phẩm sẽ giảm.

Nhưng con người ta vốn dĩ lạc quan, một bài học kinh tế khác. Cho nên, khi thấy giá tăng vì chênh lệch cung cầu trong nhất thời - chiến tranh chẳng hạn - hoặc vì sự xuất hiện của một đại gia mới nổi, người ta lạc quan tin rằng chiều hướng ấy sẽ tiếp tục.

Kết luận ngược: người ta tin vào sức bật vĩ đại của Trung Quốc như đã tin vào trứng cút!

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

Vai trò của giáo dục trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay

20 Tháng 11 2013 lúc 19:23



Toàn cầu hoá làxu thế và cũng đã là hiện trạng của thế giới ngày nay. Để tìm hiểu về toàn cầuhóa ta có thể tìm đọc các tác phẩm Xe Lexus và cây ô liu, Thế giới phẳng của tác giả, nhà báo Thomas L. Friedmanvà tác phẩm Globalization and Its discontent (Toàn cầu hóa và mặt tiêucực của nó) của nhà kinh tế học được giải thưởng Nobel năm 2001 JosephStiglitz.
      
Các  quá trình toàn cầu hóa:
1492-1800các nưởc mở rộng bờcõi, chiếm tài nguyên, thuộc địa (toàn cầu hoá phiên bản 1.0)
Đặcđiểm: sau những phát minh lớn về địa lý, đã xuất hiện hệ thống thuộc địa trongnhững thế kỷ XVII- XVIII.
Chủthể tham gia tương tác trong toàn cầu: Nhà nước
1800-2000các công ty vươn rathế giới, thành các công ty đa quốc gia, chiếm thị trường, nhân công (toàn cầuhoá phiên bản 2.0)
Đặcđiểm: Trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, thời kỳ của những phát minh kỹ thuậtvĩ đại. Sự phát triển của công nghệ cùng với sự mở rộng của các thị trường vàđầu tư vượt ra khỏi các biên giới quốc gia.
Chủthể tham gia tương tác trong toàn cầu: Công ty đa quốc gia
2000-?: các cá nhân, nhóm ngườihợp tác, cạnh tranh với nhau trên phạm vi toàn cầu nhờ các công nghệ hỗ trợmạng, điều đó làm cho thế giới dường như nhỏ lại, phẳng ra, vì tiếp cận vớinhau quá dẽ dàng (toàn cầu hoá phiên bản 3.0)
Đặc điểm: Bùngnổ công nghệ thông tin: máy tính dung lượng cực lớn, cáp quang toàn cầu và cácphần mềm ứng dụng làm cho thế giới trở nên “nhỏ bé”, mọi người trên trái đấtnày đều là “hàng xóm” của nhau. “Mọi người trong thế giới ngày nay dù ở nơi nàotrên thế giới đều có thể coi như cùng tụ hội, cùng ngồi với nhau quanh một cáibàn để cùng thảo luận một chủ đề nào đó, cùng vui chơi, dù cho có cách xa nhaunửa vòng Trái Đất”
Chủ thể tham giatương tác trong toàn cầu: Các cá nhân, nhóm người

Nhưvậy, trong khung cảnh của toàn cầu hoá ngày nay, việc huy động tốt nhất cácnguồn lực để phát triển của quốc gia chính là phát huy sự năng động, sángtạo của các cá nhân chủ động tham gia tương tác toàn cầu với sự hỗ trợ của mạnginternet để truy cập vào các dịch vụ thiết yếu trên mạng và để thiết lập sự hợptác của các cá nhân, nhóm người trên phạm vi toàn thế giới

Vai trò của giáo dục trong xu thế toàn cầuhóa hiện nay
Toàn cầu hóa tạora những cơ hội hay thách thức phát triển quốc gia là tuỳ theo thái độ ứng xử:chủ động hội nhập hay bị động hội nhập. Chẳng hạn, trong quá trình toàn cầu hóa phiên bản 1.0 và 2.0 đã tạo ra nguy cơ các nước kém phát triển bị lệ thuộc vào các nướcphát triển. Tuy nhiên, bằng sự chủ động tham gia hội nhập, thực hiện canh tânđất nước của vua Minh Trị, nước Nhật đã không những không bị lệ thuộc mà chính toàn cầu hóa1.0 và 2.0 lại trở thành cơ hội để Nhật phát triển thành một cường quốc của châuÁ và trên thế giới.

Đốivới Việt Nam thì xu hướng toàn cầu hóa hiện nay (phiên bản 3.0) có trở thànhmột cơ hội phát triển đất nước là  tùy thuộc vào việc có hình thành được một thếhệ công dân có đủ khả năng chủ động tham gia toàn cầu hóa một cách hiệu quả haykhông. Sứ mệnh lịch sử đang được đặt trên vai của ngành giáo dục nước nhà. Ngànhgiáo dục cùng với mỗi gia đình chăm lo giáo dục đào tạo con em mình trở thànhtrước hết là một công dân nước Việt đồng thời phải là một "công dân toàn cầu". Đểthực hiện được sứ mênh trước lịch sử của mình đòi hỏi ngành giáo dục cần cảicách toàn diện, hiện đại hóa trong sự chủ động hội nhập xu thế toàn cầu hóa củathể chế chính trị.

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013

Kinh tế VN mùa thu 2013: những mảng sáng tối

Phạm Đỗ Chí

Chưa năm nào có nhiều hội thảo và tranh luận sôi nổi về hiện trạng nền kinh tế như năm nay. Các giới chức và chuyên gia trong chính phủ thì cho là kinh tế Việt Nam đã ổn định khá và đang phục hồi. Vài đại biểu và chuyên gia Quốc Hội thì nhìn thấy “màu xám”, còn vài chuyên gia ngoài chính phủ hay nhiều nhóm dân cư lại vẫn thấy “màu tối”, theo báo chí. Chuyện gì đang xảy ra? 
Một nhận định của nhiều người trong kỳ hội thảo mùa thu về Kinh tế[1] mới đây là nền kinh tế đang rất xấu với nguy cơ “vỡ trận tài chính” trong năm 2014 và triển vọng trung hạn 2013-15 cũng không mấy sáng sủa vì việc tái cấu trúc kinh tế chưa được triển khai hiệu quả bằng hành động. Riêng trong phát biểu mở đầu, TS Trần Đình Thiên gọi kinh tế VN vẫn đang mò đáy, chứ chưa thoát đáy như vài nhà kinh tế khác lạc quan hơn đã nhận định mới đây.
Thêm một chuyên gia độc lập nhận xét là tình trạng sản xuất trong nền kinh tế VN gần như tê liệt vì các doanh nghiệp thi nhau phá sản hay đóng cửa từ 2011, tăng trưởng GDP có thể trì trệ hơn và nạn thất nghiệp gia tăng mạnh hơn các con số chính thức, gây ra các tệ nạn xã hội báo động. Trong khi chính sách tín dụng trong cả nước cũng hoàn toàn nghẽn mạch—một phần vì doanh nghiệp không đủ sức hấp thụ và vì ngân hàng không muốn cho vay (với thanh khoản yếu do nợ xấu gây ra).
Nói chung, hoạch định chính sách kinh tế có thể khó khăn hơn nếu không được dựa trên dữ kiện rõ ràng hay chính xác (economic planning without facts), như nhà kinh tế nổi tiếng Kornai đã từng cảnh cáo cho nền kinh tế Hung ga ri thời còn bao cấp.
Bài trình bầy của nhóm nghiên cứu Chương trình Giảng dạy Fulbright ở Saigon qua Giám đốc Nguyễn Xuân Thành[2], phân tích trong 4 động cơ liên quan đến tăng trưởng thì 3 “động cơ nội” trục trặc, chỉ có một động cơ “ngoại” là khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang chạy tốt, và nhận định quan trọng là 3 động cơ nội trục trặc là do bị ảnh hưởng của thể chế kinh tế (khu vực quốc doanh làm chủ đạo), động cơ ngoại chạy tốt do không bị ảnh hưởng hoăc bị ảnh hưởng rất ít của thể chế trong nước. Tỷ trọng giá trị gia tăng của khu vực FDI trong GDP là 13% năm 2000, đến năm 2012 tỷ lệ này tăng khoảng 7 điểm phần trăm lên xấp xỉ 20%; lượng tiền chi trả sở hữu thuần ra nước ngoài (chi trả sở hữu – thu từ sở hữu) của năm 2012 tăng khoảng 25 lần so với năm 2000 và nếu loại trừ yếu tố giá thì tỷ lệ này cũng tăng xấp xỉ 9 lần.
Điều này làm nổi bật một điều là do đóng góp đáng kể của FDI vào tăng trưởng GDP, thu nhập quốc gia gộp (GNI—gross national income) không tăng nhanh theo cùng mức với GDP, và thu nhập lẫn tiêu thụ nội địa đều yếu dẫn đến mức tổng cầu yếu đã được ghi nhận từ ba năm qua. Từ những lập luân trên phải chăng càng tăng trưởng GDP theo kiểu này thì luồng tiền và của cải của đất nước càng sụt giảm, trong khi FDI càng thu lợi nhờ nhân công và thuê đất rẻ lại tránh được thuế (xem dưới đây)?
Mặt khác, khi đã xác định được sự đình trệ của khu vực sản xuất trong nước phần lớn là do thể chế thì các nhà họach định chính sách có thể cải thiện thể chế để phục hồi cơ cấu sản xuất và cả nền kinh tế. Việc cải thiện thể chế không chỉ đơn giản là cải cách hành chính hay chống tham nhũng như một số giới kêu gọi, hay là giãn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, mà chính là thiết lập thật sự sân chơi bằng phẳng, minh bạch đối với khu vưc tư nhân và nông nghiệp. Đây chính là nền tảng thiết yếu của chính sách tái cơ cấu kinh tế đang muốn thực hiện bởi chính phủ. Vì nến tảng chưa được thiết lập, việc áp dụng mới bị bế tắc!
Điều này không tốn kém nhưng cũng rất khó khăn vì phải tái cơ cấu tư duy của các nhà lãnh đạo và điều hành kinh tế! Việc đạt được thành tích tăng trưởng cao ngắn hạn mỗi năm thực sự không quan trọng bằng việc phục hồi 3 động cơ “nội”, theo cách phân tích nói trên của nhóm Fulbright.
Từ nghiên cứu quan trọng của nhóm này, chúng ta cũng có thể suy nghĩ thêm về những mảng sáng tối, và những lý do đàng sau, của bức tranh kinh tế Việt nam khá phức tạp năm nay với các diễn đạt khác biệt từ những góc nhìn khác nhau.
Cả nền kinh tế nói chung vẫn trong tình trạng tương đối trì trệ của 2 năm trước với mức GDP thực tế chỉ tăng quanh 5% (con số chính thức được coi là lạc quan!). Nhưng phần lớn tăng trưởng được ghi nhận là do nhóm sản xuất FDI . Và đó cũng là lý do cho điểm sáng hiếm hoi của xuất khẩu vẫn tăng khá năm nay. Nhưng với các kỹ thuật chuyển giá để khai lỗ của nhóm doanh nghiệp FDI, đóng góp vào thuế doanh nghiệp của khu vực này gần như rất ít, trong khi các doanh nghiệp tư  nhân ngoài FDI và nhà nước thua lỗ nên không thể đóng thuế: thêm một lý do cho thất thu thuế năm nay, ngoài chuyện trì trệ sản xuất.
Ngoài ra do tình trạng suy yếu của sản xuất nói chung, mức nhập siêu 10-12 tỷ USD của các năm trước 2011 đang trở thành xuất siêu, giúp cho cán cân vãng lai và thanh toán tổng thể được thặng dư, và là lý do căn bản làm bớt được áp lực tỷ giá.
Áp lực lên tỷ giá cũng bớt đi do chuyên độc quyền vàng miếng SJC làm bớt nhu cầu nhập lậu vàng. Trong khi NHNN có thể hân hoan với kết quả này, câu hỏi bất cập khác xuất hiện là khối vàng trên 60 tấn do NHNN độc quyền bán ra đã đi đâu? Khoảng 30 tấn được giải thích là cho nhu cầu tất toán của hệ thống ngân hàng trong năm, nhưng còn hơn 30 tấn vàng kia đi đâu? Báo chí xuất hiện thêm loạt bài nói là “tham nhũng ưa chuộng vàng miếng”, làm dấy lên mối lo ngại trước đây về các kênh tẩu thoát của vàng không được mong muốn, một câu hỏi nhức nhối khó trả lời và cần thời gian.
Chuyện bán ra khối vàng quan trọng cùng với việc phát hành 170.000 tỳ đồng trái phiếu chính phủ cũng được coi là hai biện pháp giúp rút bớt khối tiền đồng lưu hành để tránh áp lực lạm phát do việc NHNN mua vào thành công khối dự trữ ngoại hối tăng đến mức kỷ lục 28 tỷ USD, so với sự thất bại năm 2007 do thiếu biện pháp này để trung hòa khối tiền đồng tung ra để mua khoảng 10 tỷ USD do FDI và đầu tư gián tiếp FII mang đến. Câu hỏi đặt ra là tiền lớn đều chui vào vàng và chi tiêu chính phủ, còn đâu “room” cho đầu tư của tư nhân khi bị khu vực chi tiêu chính phủ chèn ép?
Sau hết, sản xuất trì trệ nói chung trên đây cũng gây trở ngại cho mức tổng cầu và hấp thụ tín dụng của nền kinh tế. Do đó, tín dụng  mới tăng hơn 6% cuối tháng 10 và cả năm khó đạt mục tiêu tăng 12%, và là nguyên nhân chính giúp giảm áp lực lạm phát.
Về nhu cầu chính sách tương lai trong ngắn hạn, có 2 luồng ý kiến: thứ nhất là kích cầu từ đầu tư công qua nới rộng mức độ bội chi ngân sách và thứ hai là “kiên trì” ổn định kinh tế vĩ mô. Việc “kích cầu”, qua đầu tư công thiếu hiệu quả, có thể nhất thời làm tăng GDP nhưng không bền vững và chỉ nhằm mục đích “thành tích” ngắn hạn, và một vòng xoáy lạm phát – suy trầm bị e ngại sẽ lại tiếp diễn trong năm 2014 như đã xảy ra các năm trước đây. Hơn nữa trong lúc các tỉnh thành lớn đều hụt thu nội địa thì việc nâng trần bội chi ngân sách quốc gia (lên 5,3% cho năm nay và năm tới) để dáp ứng việc giải quyết tăng GDP ngắn hạn là một việc không nên làm trong lúc này.
Điều gây bức xúc nhất vẫn là chính sách trung hạn: tiếp tục in trái phiếu khoảng 150.000-200.000 tỷ mỗi năm như lối ra cho chính sách tài khóa theo dự kiến hiện tại quả là không ổn cho bức tranh lạm phát và tổng thể. Và không giải quyết được nghẽn mạch tín dụng bằng việc tiếp tục vô thời hạn các biện pháp hành chính hiện nay trong chính sách tiền tệ, thay vì các biện pháp thị trường, do chính NHNN đã khổ công xây dựng trong nhiều năm trước đây mà kinh tế đất nước cũng đã rất quen thuộc-- mới là chuyện quan trọng: liệu có thể để các doanh nghiệp tiếp tục dẫy chết và guồng máy sản xuất suy đốn thêm?
Nhìn chung, búc tranh kinh tế 2013 có những điểm sáng như xuất khẩu tăng, tỷ giá ổn định, lạm phát giảm dần, được một số nhà kinh tế quen thuộc trong nước ngợi khen, nhưng nghĩ kỹ đều phản ánh những tia sáng le lói khó bền vững, vì chỉ đi ra từ sự kiệt quệ của nền kinh tế tư nhân với hàng chục ngàn doanh nghiệp đóng cửa hay lỗ nặng hàng tháng. Cạn nguồn thuế, ngân sách không thể kéo dài chuyện in tiền qua phát hành trái phiếu của chính phủ hay của các doanh nghiệp nhà nước được bảo lãnh. Đây không thể là tình trạng kéo dài thêm được lâu nữa.
Trong phần tóm tắt kết luận hội thảo, một nhân vật hữu trách quan trọng khẳng định là nền kinh tế không hề tê liệt để trả lời thẳng vào nhận xét chuyên gia trên đây, nhưng lại cũng hoàn toàn im lặng về các đề xuất thay đổi thể chế như nêu trên. Thay vào đó, vị này nhấn mạnh về yếu tố phục hồi tăng trưởng cho năm tới, và nêu nhận xét là các chuyên gia đã rõ ràng và đồng thuận trong phần nhận định hiện trạng, nhưng chưa đưa ra được các giải pháp chính sách phục hồi kinh tế cụ thể. Và hình như đó là bế tắc của khóa hội thảo mùa thu, cũng như của nền kinh tế suốt bốn mùa!
Trước bế tắc đó, phải chăng cần nghĩ đến giải pháp “cuối cùng” như chuyên gia Võ Đại Lược vừa đề nghị với Ủy ban Kinh tế Trung ương là mời IMF trở lại để trợ giúp cả kỹ thuật lẫn tài chính? Kỹ thuật vì họ có cái nhìn khách quan vượt trên được các nhóm lợi ích và có thể giúp tái lập bức tranh tổng thể với số liệu chính xác. Tài chính vì nhu cầu vốn để xóa món nợ xấu ngân hàng cũng như giảm khối nợ công quốc gia khổng lồ (ước tính vượt 100% GDP, gồm cả nợ của các doanh nghiệp nhà nước do chính phủ bảo lãnh) có thể lên đến 40-50 tỷ USD, con số ít ai dám nghĩ đến, nhưng là số dựa vào kinh nghiệm trợ giúp của IMF cho Thái lan và Nam dương.
 
[1] Do Ủy ban Kinh tế Quốc Hội tổ chức ở Huế vào hai ngày 26-27/9/2013. 
[2] Tóm tắt của TS Bùi Trinh trong một bài viết ngắn chưa xuất bản.

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

Khi Liên Bang Nga Có Loạn


Hồ Sơ Người-Việt Ngày 131106
Hùng Tâm
Chiêu bài dân tộc gây phản ứng ngược
 * Đất say đất cũng lăn quay... Chiến dịch lùng rượu *
Thời sự quốc tế loan tin là nhân Ngày Thống Nhất Quốc Gia, cả vạn người đã biểu tình tại thủ đô Moscow vào hôm mùng bốn với nhiều khẩu hiệu mâu thuẫn. Đám đông ô hợp xuống đường ở nhiều nơi, có nơi thì bị cảnh sát chặn, có nơi lại như được cảnh sát hỗ trợ. Hình như là tùy theo mục tiêu xuống dường.
Chi vì có người cổ võ tinh thần phát xít và chống di dân thì có người lại trưng khẩu hiệu chống cộng. Có kẻ đề cao Lenin và Stalin thì lại có người kêu gọi dân chủ và chấm dứt triều đại của Vladimir Putin, v.v... Tính chất hỗn tạp ấy phản ảnh nhiều vấn đề đa diện và nan giải của Liên bang Nga và gợi nhớ đến sự bức bí đầu thế kỷ 20, trước khi bùng nổ cuộc Cách mạng Tháng 10 vào năm 1917.
Nhưng khi đọc tin này, chúng ta muốn biết cái ngày "Thống Nhất Quốc Gia" đó là gì.
Năm 1612, quân lính Nga đẩy lui cuộc xâm lăng của Ba Lan ra khỏi thủ đô Moscow vào ngày bốn Tháng 11. Từ đó, các triều đại của Đế chế Nga chọn ngày này làm Ngày Thống Nhất Quốc Gia, như ngày Quốc Khánh. Sau khi Cộng sản lên nắm quyền từ năm 1917, họ hủy lễ quan trọng này, lấy ngày mùng bảy Tháng 11 là ngày kỷ niệm "Cách Mạng Tháng Mười" theo lịch Nga.
Sau 88 năm bị gián đoạn, kể từ năm 2004, Tổng thống Vladimir Putin lấy lại Ngày Thống Nhất Quốc Gia và cho ăn mừng từ năm 2005. Khi ấy, mục đích của ông là tìm một ngày thay thế cho cuộc cách mạng cộng sản và nhất là để phát huy tinh thần quốc gia dân tộc của người Nga. Mươi năm sau thì tình hình lại đổi khác, ông Putin không còn thế mạnh như xưa. Những ai theo dõi nội tình nước Nga còn thấy ra nhiều yếu tố bất ổn, những mầm mống của một biến động khác.
"Hồ Sơ Người-Việt" cố vượt qua thời sự để lần lượt tìm hiểu chuyện này.....
Chuyển Dịch Dân Số
Những thay đổi về dân số thường xảy ra chậm rãi nên lọt khỏi sự quan sát ngắn hạn của mọi người nhưng lại là yếu tố có ảnh hưởng nhất.
Sau khi Liên bang Xô viết tan rã năm 1991 và trở thành Liên bang Nga, dân số nước Nga đã giảm mạnh, từ gần 149 triệu nay chỉ còn 143 triệu. Sút giảm mạnh nhất là sắc tộc Nga, thành phần chiếm 81% của dân số toàn quốc. Mãi đến năm 2009 thì đà sút giảm hàng năm mới chậm lại nhờ tử suất giảm và sinh suất tăng. Tử suất hay death rate là số trung bình của người chết so với một ngàn dân và sinh suất hay birth rate là số người sinh ra....
Một yếu tố khác có chi phối dân số hay nhân khẩu (một chữ khác, có nghĩa là miệng ăn) của Nga là số di dân có tăng.
Tìm vào chi tiết thì như hiện nay, 20% dân số nước Nga là những người ra đời sau khi Liên Xô tan rã.
Thành phần trẻ này không biết nhiều về quá khứ Xô viết và chẳng bị ảnh hưởng gì về lý tưởng cách mạng vô sản, về hệ thống tập trung chính trị hay "sự ổn định xã hội" thời xưa. Hãy cho rằng họ bắt đầu có sự hiểu biết là ở tuổi lên 10, là khi Liên bang Nga đã qua thời khủng hoảng hậu Xô viết trong những năm cầm quyền của Tổng thống Boris Yeltsin, và bắt đầu có sự ổn định vững mạnh hơn trong những năm Putin lãnh đạo, từ năm 2000 trở về sau.
Chi tiết đó cho thấy là lớp người trẻ của nước Nga hiện nay không luyến tiếc hay thù ghét chế độ cộng sản và lại thích một xã hội cởi mở, dám nói ngược và phê phán chính quyền. Vì vậy mà sau 10 năm cấp cứu và phục hồi sức mạnh của nước Nga, ông Putin lại thấy quyền lực của chính quyền trung ương, của điện Kremlin, bị chống đối từ năm 2011 trở về sau. Thành phần trẻ này cũng lại có phương tiện thông tin hiện đại để chia sẻ hay quảng bá những suy tư của họ với nhau và với thế giới bên ngoài: số người vào Internet tại Nga hiện là 60%, so với 10% vào năm 2006.
Chuyện ấy, khi làm tin hàng ngày, nhà báo thường không chú ý lắm. Hoặc nhiều khi không hiểu.
Một chi tiết khác là đà sút giảm dân số có chậm lại kể từ năm 2009 - chậm lại thôi, chứ vẫn giảm. Dự phóng cho dài hạn là đến năm 2030, dân số nước Nga sẽ giảm thêm 10%. Nghĩa là 15 năm nữa, Liên bang Nga chỉ còn cỡ 129 triệu dân, trên một lãnh thổ bát ngát là hơn 17 triệu cây số vuông.
Chính quyền Nga có nỗ lực cải thiện chế độ y tế, khuyến khích sinh đẻ và giải trừ hai ảnh hưởng tai hại về dân số là hút thuốc và nghiện rượu. Nhờ vậy, họ hy vọng là sẽ hãm đà giảm sút dân số. Hy vọng thôi. Tháng Tám năm 2012 là lần đầu tiên từ mấy chục năm qua mà dân số của nước Nga có tăng, khiến Tổng thống Putin tuyên bố là dân số Nga sẽ lên tới 146 triệu vào năm 2025. Nhưng chủ yếu gia tăng là nhờ di dân.
Chi tiết quan trọng hơn chuyện tuổi tác và đà tăng giảm của dân số là thành phần thiểu số.
Ngoài sắc tộc đa số (81%) là người Nga, trong thành phần thiểu số tại Nga, những người thuộc sắc tộc khác và theo đạo Hồi lại chiếm tỷ lệ quan trọng. Và gia tăng đều từ nhiều thập niên.
Từ khi bức tường Bá Linh sụp đổ năm 1989, dẫn đến sự tan rã của Liên Xô năm 1991, thì dân số các nước Cộng hoà Hồi giáo tăng vọt, như tăng 59% tại Chechnya hay 69% tại Dagestan. Ngoài ra, di dân từ bên ngoài vào Nga cũng tăng mạnh, hàng năm thêm 400 ngàn, trong đó chỉ có 240 ngàn là hợp pháp. Họ đến từ các nước Cộng hoà Hồi giáo vùng Trung Á, ngày xưa nằm trong Liên bang Xô viết. Nhiều nhất là từ Azerbaijan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan.
Trong tháng trước, Hồ Sơ Người-Việt có nói đến các nước Trung Á này, xin quý độc giả chịu khó tìm lại.
Dân Số Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
Từ chuyện chuyển dịch dân số, xã hội Nga ngày nay đang có những hiện tượng sau đây.
Thứ nhất, người dân nói chung đã có quyền và thói quen phát biểu tự do hơn trước. Thứ hai, tộc Nga thấy ra sự sa sút dân số trước dân thiểu số, thuộc sắc tộc và tôn giáo khác. Họ muốn hạn chế di dân vào nước Nga. Bên trong nước Nga thì họ muốn hạn chế người Hồi giáo từ khu vực Caucasus ở phía Nam tràn vào vùng sinh hoạt truyền thống của tộc Nga.
Có hai thí dụ về trào lưu đó: 1) Hạ viện Nga (State Duma) từng thảo luận về đề luật ngăn ngừa dân số từ vùng Caucasus của Nga tràn lên hướng Bắc vào thủ đô Moscow và 2) theo cơ quan nghiên cứu độc lập Levada Center, 70% người Nga muốn có luật lệ chặt chẽ hơn về di dân nội địa và di dân ngoại nhập.
Lý do đầu tiên và dễ hiểu của trào lưu đó là việc làm và lương bổng: dân Hồi giáo từ Trung Á muốn vào Nga, và từ miền Nam của nước Nga muốn vào thủ đô Moscow, là để tìm việc và hưởng đồng lương cao hơn.
Quy ra đồng đô la, lương tháng trung bình tại Tajikistan là 22 đồng, tại Kyrgyzstan là 75 đồng, tại các nước Cộng hoà trong vùng Caucasus là 439 đồng, trung bình trên toàn quốc là 800 đồng và tại Moscow là một ngàn 750 đồng. Những người Hồi giáo nghèo khổ ở nơi khác có hy vọng tìm ra việc làm ở Moscow với đồng lương thấp là từ 300 đến 790 đồng một tháng (so với 1.750 là mức trung bình). Dù có thấp thì vẫn khá hơn những gì họ kiếm được ở chốn cũ.
Sức hút đó khiến dân Nga thấy là họ bị cạnh tranh và hai phần ba còn cho rằng dân Hồi giáo (di dân từ Trung Á hay từ miền Nam nước Nga) làm gia tăng tội ác và nạn khủng bố. Đó là về sắc tộc.
Về tôn giáo thì đa số đến 80% người Nga theo Chính thống giáo, một hệ phái của Thiên Chúa giáo ở phương Đông, xin tạm gọi là Chính thống giáo Nga (Russian Orthodox).
Khi muốn củng cố quyền lực của mình, Tổng thống Putin huy động hai sức mạnh tinh thần là 1) chủ nghĩa dân tộc Nga (việc chọn Ngày Thống Nhất Quốc Gia làm Quốc khánh) và tư tưởng tôn giáo chính thống.
Từ chiến lược đó của ông, trong lãnh vực chính trị mới xuất hiện phong trào xưng danh "Nước Nga Của Người Nga" hay "Không Nuôi Đất Caucasus". Họ đã xuống đường biểu tình từ năm 2011 và tuần qua đã tuần hành trên đường phố thủ đô Moscow, và được cảnh sát bảo vệ. Cũng từ chiến lược của Putin, trong lãnh vực tôn giáo đã xuất hiện các lực lượng chính thống nhất, cực đoan nhất. Thí dụ như "Lữ đoàn Chính thống" đã thành hình và đi tuần tra đường phố để bảo vệ người Nga theo Chính thống giáo chống lại dân Hồi giáo.
Thực tế về di dân, quyền lợi kinh tế và chính nghĩa dân tộc hay tôn giáo mới dẫn đến những vụ biểu tình chống đối và bạo lực nhắm vào người Hồi giáo và di dân. Thí dụ như hôm 13 tháng trước đã có bạo động trong nhiều ngày sau khi một người Nga bị một di dân gốc Azerbaijan đâm chết tại quận Biryulyovo ở phía Nam Moscow. Một tuần sau, bạo động lan đến St Petersburg. Tại Volvograd, khi một tên khủng bố tự sát người Dagestan làm sáu người thiệt mạng trong một xe buýt thì nhiều nhà nguyện và đền thờ Hồi giáo đã bị đốt. Những trường hợp như vậy xảy ra thường xuyên hơn. Trong ngày Thống Nhất Quốc Gia, một nhóm biểu tình đã giương lên một biểu ngữ rất to là "Đấu Tranh Cho Biryulyovo"!
Nhờ Vladimir Putin và những thay đổi xã hội, người ta tìm ra biểu tượng mới. Nhưng sự bất mãn của người dân không chỉ xuất phát từ lý do sắc tộc hay tôn giáo và nhắm vào di dân hay đạo Hồi. Quần chúng tại Nga còn thất vọng về nhiều chuyện khác nữa. Tình trạng đình trệ kinh tế là một chuyện. Sự bực dọc về sự đình trệ chính trị và nạn độc tài là một chuyện khác.
Trong kỳ tới, Hồ Sơ Người-Việt sẽ tìm hiểu tiếp những chuyện đó.
_________________________
Kết luận ở đây là gì?
Khi lãnh đạo nhắm vào mục tiêu chính trị cục bộ và vận dụng tâm lý người dân làm phương tiện củng cố quyền lực, họ có thể là phù thủy dụng âm binh.
Sau 15 năm lãnh đạo nước Nga, ông Vladimir Putin chứng tỏ bản lãnh của một phù thủy cao tay, tuần qua vừa được tờ Forbes của Mỹ bầu là người quyền thế nhất thế giới, hơn cả Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Tập Cận Bình. Nhưng phù thủy có thể bị âm binh vật chết.
Những chuyển dịch dân số và xã hội khiến rất nhiều lực lượng có thể là âm binh. Một cách bất ngờ. Chúng ta không muốn bị bất ngờ thì lâu lâu lại tham khảo "Hồ Sơ Người-Việt"!

Cải Cách Củ Mật


Nguyễn-Xuân Nghĩa- Việt Báo Ngày 131114
Bắc Kinh Phù Phép Mà Chưa Có Phép Lạ
 * Khách sạn JingXi tại Bắc Kinh, nơi họp Hội nghị Trung ương kỳ ba *
Các kinh tế gia khó là thiền sư để như Bạch Ẩn Huệ Hạc của dòng Lâm Tế mà nghe được "tiếng vỗ của một bàn tay". Lý do đơn giản là vì họ có hai tay....
Chúng ta có thể suy luận như vậy khi nhớ lại những lời - thậm chí nhiều pho sách – ca tụng phép lạ kinh tế Trung Quốc với những dự đoán kinh người về thời điểm "vượt Mỹ". Sau khi có sản lượng vượt Đức rồi vượt Nhật, kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Hoa Kỳ để dẫn đầu thế giới vào năm 2016, hay 2020, 2025, 2030, v.v.... Tất cả đều chỉ là dự đoán thôi. Vì kinh tế học cũng có hơi hướm khoa học, các kinh tế gia hiểu rằng mọi tiên đoán đều có thể trật.
Thầy bói mà đoán trật thì bể tráp hay mất khách, giới kinh tế biết vậy nên khi đoán mò là họ khéo nhấc bàn tay kia.
"Một đàng" thì Trung Quốc có những động lực tất yếu để đưa mức tăng trưởng thần kỳ qua mặt Hoa Kỳ vào một thời điểm nào đó trong tương lai. Nhưng - bàn tay kia được giương lên cho thêm phần hùng biện - nhưng "đàng kia" thì cũng còn lý này hay lẽ nọ để có chuyện lỡ hẹn! Trong mọi cuốn sách ngợi ca Trung Quốc, họ đều yểm bên dưới dòng chữ li ti trong phần cước chú một vài lý luận về "đàng kia" – on the other hand....
Tức là đúng sai gì thì họ vẫn có lý.
Chúng ta nhớ lại điều ấy vì từ hai chục năm nay, sau khi kinh tế Nhật Bản sa sút rồi suy trầm, đã có cả một kỹ nghệ ca tụng kinh tế Trung Quốc với nhiều dự đoán tưng bừng.
Các doanh nghiệp đầu tư vào xứ này đã huy động cả truyền thông lẫn giới nghiên cứu để cổ võ cho việc làm ăn với Hoa lục. Họ dùng lý luận kinh tế đưa ra những luận chứng khoa học về một kỷ nguyên hay một Thế kỷ mới của Trung Quốc. Các tay cò mồi quốc tế lẫn chính khách có sự nghiệp gắn liền với việc buôn bán đó cũng chen vai xác nhận.
Rồi họ sẵn sàng tìm ra cái lý giảm khinh để biện bạch cho những điều bất toàn của hệ thống kinh tế chính trị Trung Hoa.
Tham nhũng ư? Chế độ nào mà chẳng có tham nhũng? Môi sinh bị hủy diệt ư? Các nước nghèo và mới nổi thảy đều phải qua giai đoạn ấy, nhưng khi đã giàu có hơn thì họ sẽ cải tiến. Bất công xã hội ư? Làm sao bằng tình trạng quá đáng của các nước tư bản với 1% dân số đã ăn trùm 99% còn lại! Độc tài ư? Các chế độ kinh tế Á Châu đều phải như vậy, khi kinh tế phát triển rồi thì giới trung lưu sẽ đẩy mạnh những đổi thay về chính trị. Huống hồ, trước những biến động liên tục của các nước tư bản Tây phương từ dăm bảy năm nay, mọi người đều thấy ưu điểm của chế độ tư bản nhà nước và vai trò trọng yếu của chính quyền để điều tiết và vận dụng thị trường....
Kết luận, vạn tuế kinh tế thần kỳ!
Cho đến năm nay thì bỗng dưng nhạc lắng mây chìm và đà tăng trưởng thần kỳ chỉ là vang bóng.
Thành thử, như nhiều nước đi trước, Trung Quốc cũng sẽ phải chuyển hướng. Lãnh đạo Bắc Kinh đã nói đến nhu cầu cải cách họ gọi là lịch sử và sinh tử. Sau khi thế hệ thứ năm lên ngôi từ Đại hội 18 vào năm ngoái, Hội nghị Trung ương kỳ ba sẽ đưa ra kế hoạch cải cách thần kỳ này.
Tuần qua, Hội nghị đó đã kết thúc.
Hội nghị quy tụ 373 Ủy viên Trung ương đảng và Dự khuyết kéo nhau vào nơi củ mật nhất của thủ đô Bắc Kinh để họp bốn ngày liền. Nơi củ mật là Khách sạn Kinh Tây do Quân đội quản lý và bảo vệ như một pháo đài. Dân chúng Bắc Kinh bị bóp họng đã nhân dịp chơi chữ mà gọi chốn linh thiêng đó là "Kinh Hí" (cũng phiên âm là Jingxi), có nghĩa là tuồng hát ở kinh đô! Truyền thông uyên bác thì gọi là Beijing Opera.
Có máu Ba Giai thì ta gọi ký kịch đó là "Cải cách Củ mật", xin ai đừng nghĩ bậy như Tú Xuất sang "Kủ kải", vì chữ "củ" cũng có nghĩa là rối beng. Rối ren trong bí mật!
***
Bộ Chính trị Khoá 18 đã mất gần một năm để thu thập ý nguyện của ngần ấy phe phái, vây cánh và cơ sở quyền lực kinh tế lẫn chính trị và soạn ra một thực đơn 18 món. Có đủ sơn hào hải vị, thất tình lục dục lẫn bát trân bát bửu. Phe nào cũng thấy những đòi hỏi chính đáng của quần chúng nhân dân lao động bên dưới được thể hiện rõ ràng trong một mớ chữ đầy mâu thuẫn.
Rốt cuộc thì vẫn là kinh tế thị trường mà theo định hướng xã hội chủ nghĩa (xin nói về chữ nghĩa để đừng dịch sai, "xã hội chủ nghĩa" là phạm trù tư tưởng, khác với "chủ nghĩa xã hội" là trạng thái xã hội). Vẫn là xã hội chủ nghĩa nhưng với màu sắc Trung Quốc ("Trung Quốc đặc sắc xã hội chủ nghĩa"), tức là nét lưỡng thể phi cầm phi thú của "kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa".
Nhưng vẫn nằm trong Chủ nghĩa Mác-Lênin, được cải tiến bằng "Tư tưởng Mao Trạch Đông", hoàn thiện bằng "Lý thuyết Đặng Tiểu Bình" và "Phương hướng Giang Trạch Dân", là dùng lực đẩy của thuyết "tam biểu": đảng là đại biểu của các phương tiện sản xuất tiên tiến, của nền văn hóa kỹ thuật tiên tiến và của quyền lợi chính đảng của đại đa số quần chúng nhân dân...
Sau khi dựng lên tấm bình phong kiên cố và phải đạo như vậy rồi, Hội nghị mới thông báo một thực đơn toàn những món ăn chơi.
Các nhà bình luận quốc tế đều soi kính hiển vi và phát giác bước ngoặt vĩ đại là nỗ lực "thâm hóa cải cách" – cho sâu hơn – để quy luật thị trường giữ vai trò "quyết định" thay vì "cơ bản" như trước đây. Thế là vui rồi!
Chứ nội dung bên dưới khẩu hiệu huy hoàng này vẫn là chuyện củ mật.
Làm sao vận dụng quy luật thị trường mà tránh được dao động quá đáng và nạn bong bóng đầu cơ đang nổi lên từ các đại gia trong đảng? Làm sao san bằng bất công xã hội và khác biệt quá lớn giữa đô thị với nông thôn, giữa vùng duyên hải lý tài nhộn nhịp với các tỉnh bị khóa bên trong? Làm sao thị trường có thể vận hành khi mà một lực lượng lao động rất lớn, đến vài trăm triệu "dân công" trong tổng số 900 triệu người, vẫn chưa có hộ khẩu?
Vì sao Hội nghị không nhắc đến con quái vật nằm giữa đại sảnh là chế độ hộ khẩu?
Dưới ánh sáng tù mù đó, ta mới chú ý đến việc Chủ tịch Tập Cận Bình đề nghị lập ra một "Quốc gia An toàn Ủy trung hội", một Hội đồng An ninh Quốc gia, để tập trung các phần vụ ngoại giao, an ninh, tình báo, quân sự và trật tự công cộng trước đây vẫn phân tán ở nhiều nơi.
Trong hệ thống tổ chức của đảng, Ban Chính Pháp Trung ương là bộ phận có trách nhiệm giữ gìn trật tự công cộng bên trong (qua Bộ Công An) và công tác tình báo phản gián với bên ngoài (qua Bộ Quốc An). Với nạn Bạc Hy Lai cùng kẻ đỡ đầu là Trưởng ban Chính pháp Chu Vĩnh Khang, sau Đại hội 18, người lên cầm đầu cái ban bệ ghê gớm này (Mạnh Kiến Trụ) không ở trong Thường vụ Bộ Chính trị nữa. Và Tập Cận Bình cần dưới tay một cơ chế phối hợp trực tiếp hơn. Mục tiêu không nhắm vào an ninh đối ngoại mà để kiểm soát tình hình bên trong.
Đấy mới là một cản trở của cải cách và có thể giải thích vì sao chưa có thay đổi gì lớn trong chế độ hộ khẩu như nhiều người đã đề nghị hoặc trông đợi. Nếu không giải tỏa chính sách hộ khẩu thì làm sao giải quyết bài toán an sinh xã hội, nâng cao sức tiêu thụ của thị trường nội địa làm lực đẩy thay thế cho đầu tư của khu vực công?
Một con voi trắng lù lù trong đại sảnh của khách sạn Kinh Tây cũng thơ thới bước ra. Đó là kế hoạch cải cách doanh nghiệp nhà nước.
Người ta chỉ được biết tư nhân sẽ có thêm quyền hạn đầu tư – châm tiền cấp cứu – xí nghiệp quốc doanh, nhưng vai trò của các tập đoàn kinh tế nhà nước vẫn được duy trì. Chế độ tư bản nhà nước và đám tòng vong là tham ô, lãng phí và bóc lột, vẫn tiếp tục tung hoành, dưới một núi nợ vĩ đại của hệ thống tín dụng cũng của nhà nước từ trung ương đến địa phương.
Cũng vậy, việc cải cách chính sách tín dụng và hệ thống ngân hàng hay cải cách thuế vụ để tránh nạn địa phương cướp đất của dân làm nguồn thu ngân sách, những yêu cầu đó vẫn là mờ mồ nhân ảnh. Chưa nói gì đến chuyện phòng the cũng củ mật không kém: nới lỏng chế độ kiểm soát sinh đẻ và chấm dứt chính sách mỗi hộ một con để trong vài thế hệ nữa sẽ tạo ra sự chuyển dịch dân số tốt đẹp hơn tình trạng chưa giàu đã già như hiện nay.
Còn nhiều lắm....
***
Chúng ta đều có thể hiểu rằng sau một hội nghị có tầm chiến lược như vậy, lãnh đạo Bắc Kinh phải mất nhiều năm khai triển, thuyết phục, hoặc bẻ tay đấu đá rồi mới có kế hoạch và chương trình áp dụng. Vì vậy, không ai chờ đợi một nghị quyết hoàn chỉnh để trên dưới sẽ răm rắp thi hành. Mặc dù như vậy, việc lãnh đạo xứ này phải dung hòa nhiều quan điểm trái ngược và nói ra những ước nguyện đầy mâu thuẫn có thể cho thấy một sự thật khác: Đảng chưa nhất trí!
Chỉ vì bên dưới vẫn còn quá nhiều thế lực cưỡng chống và muốn duy trì hiện trạng để bảo vệ quyền lợi riêng.
Hiện tượng đó thì tự cổ chí kim nơi nào cũng có. Nhưng nếu có thông tin minh bạch trong một thể chế dân chủ được gạn lọc qua bầu cử tự do thì ít ra những người trong cuộc vẫn còn tiếng nói. Trung Quốc tiên tiến thì chưa đi tới chốn đó. Vì vậy, giấc mộng Trung Hoa và đà tăng trưởng thần kỳ vẫn là mộng mị.
Hỏi các kinh tế gia lạc quan năm xưa thì họ giơ cả hai tay lên trời!

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

TẠM THỜI CHO NGẮN HẠN NHƯNG XẤU DÀI HẠN

Bài đọc liên quan:
Hôm khai mạc hội nghị trung ương 8 vừa qua, ông thủ tướng đọc báo cáo tại hội nghị trung ương 8 đang diễn ra có đoạn, kinh tế vĩ mô tạm ổn sau hơn 2 năm thực thi nghị quyết 11/2011. Lạm phát đã được thủ tiêu. Niềm tin dân chúng vào đồng tiền đã được củng cố. Tình trạng đô la hóa và vàng hóa thị trường đã được kiểm soát. Tăng trưởng tuy không đạt như mong muốn, nhưng tốt trong tình trạng kinh tế đang suy thoái trong nước và toàn cầu. Tất cả những điểm sáng này là do một tay ông Thống đốc NHNNVN Nguyễn Văn Bình làm ra, dĩ nhiên có sự góp phần của các bộ, ban ngành khác.

Từ tháng 8/2011 ông Nguyễn Văn Bình nhậm chức Thống đốc NHNN VN là lúc dầu sôi lửa bỏng. Lãi suất ngân hàng kịch trần lên đến 28 - 30%/năm. Lạm phát của năm đứng hàng thứ 2 trên thế giới - chỉ sau Venezuela 29.6% - khoảng 17.15%. Bong bóng bất động sản xì hơi giai đoạn khốc liệt nhất. Nợ xấu tràn lan, doanh nghiệp chờ ngày chết, và đóng cửa hàng loạt. Sức mua của dân cạn kiệt sau nghị quyết 11/2011 được ban hành. Kinh tế vĩ mô khốn đốn. Mọi hậu quả đó là do người tiền nhiệm để lại. Ông phải tháo gỡ khó khăn.
Có 3 vấn đề về mặt ngắn hạn ông Thống đốc NHNNVN làm tốt cho ngắn hạn, nhưng cũng là cái xấu cho dài hạn của nền kinh tế nước nhà.
Vấn đề độc quyền kinh doanh vàng và đô là là một việc tốt. Nó đã giúp đảng cầm quyền đem về lợi nhuận gần 6.500 tỷ để góp vào ngân sách nhà nước đang thiếu hụt vì tình trạng kinh tế đang khốn đốn. Nó đã giúp tình trạng vàng hóa và đô la hóa bị tiêu diệt. Nhưng về dài hạn, nó đã góp phần làm tê liệt một mảng lớn của kinh tế vĩ mô của đất nước - tài nguyên, vàng đô la và chứng khoán. Điều này kéo theo đồng tiền sẽ bị nằm trong ao tù nước đọng, dẫn đến kinh tế ngoài nhà nước thiếu hụt tư bản đầu tư, và các doanh nghiệp tư nhân sẽ khốn đốn. Trong khi đó, doanh nghiệp ngòai nhà nước đóng góp đến hơn 60% GDP của đất nước. Còn nhớ những năm đầu 1990s cũng độc quyền vàng đô la, thị trường heo hút, sau đó xóa độc quyền thị trường trở nên sôi động và kinh tế thoát hiểm. Cambodia cứ thả cửa cho đô la và vàng hóa, nhưng đồng tiền của họ vẫn mạnh hơn đồng tiền Việt và không lạm phát, đồng đô la cũng không giết được đồng Ria.
Tăng lãi suất kịch trần và hạ lãi suất chậm chạp là vấn đề thứ hai ông Bình đang cố gắng làm, để khởi động lại dòng tiền tín dụng đến các doanh nghiệp đang khát vốn, và cứu lấy bong bóng bất động sản đang xì hơi đến kiệt quệ. Giai đoạn tăng lãi suất kịch trần nhằm giảm lạm phát. Sau khi kinh tế suy sụp, sức mua của dân cạn kiệt, tình trạng lạm phát không thể xảy ra dù giá xăng dầu tăng đến 3 lần trong 1 tháng, là bắt đầu lúc ông Bình hạ lãi suất ngân hàng đến 3 lần liên tiếp. Điều này đúng, nhưng lúc này việc hạ trần lãi suất lại không có tác dụng vì; Dư nợ vay tín dụng của các ngân hàng ở lãi suất cũ quá cao; thiếu thanh khoản ở các ngân hàng đang ở giai đoạn tầm trọng vì đóng băng bất động sản; khả năng cho vay của các ngân hàng lại kém, vì doanh nghiệp sắp chết thì không đủ điều kiện cho vay, doanh nghiệp làm ăn được thì thu nhỏ thị trường không cần phải vay. Hậu quả là, toàn hệ thống ngân hàng như con rắn đang tự ăn cái đuôi của mình cho đến khi tự nuốt đến cái đầu.
Giải quyết nợ xấu là lĩnh vực ông Thống đốc làm cũng tốt cho đến bay giờ. Mua bán và sáp nhập các NH mất khả năng chi trả vào những ngân hàng còn mạnh, và đang là chủ nợ của ngân hàng kia, là một việc làm đúng của ông. Nhưng nó lại làm 2 cái nợ nhỏ gộp thành một cái nợ to, cũng chỉ là giải pháp tình huống trong lúc bỉ cực. Không còn cách nào khác, vì không thể làm sụp bất kỳ một ngân hàng nào trong lúc này sẽ kéo theo chuỗi domino kinh tế sụp đổ, và có thể kéo theo động loạn chính trị. Từ đây nợ xấu bắt đầu hiển hiện, và việc hình thành VAMC - công ty mua bán nợ xấu quốc gia - mua một đống nợ xấu nhưng không biết sẽ bán nó cho ai? Một cách giật gấu vá vai trì hoãn thời điểm tử vong của một con bệnh nan y.
Nhiều bài viết về ông Thống đốc ngân hàng nhà nước đương nhiệm - Nguyễn Văn Bình - đa số đều chê, chưa thấy lời khen. Thực ra, việc ông Bình làm trong gần 3 năm qua có cái tốt ngắn hạn, lại là cái xấu trong dài hạn. Nhìn bề ngoài là kinh tế đang phục hồi, và các khoản nợ xấu đang được giải quyết ổn thỏa, nhưng nợ xấu của ngân hàng lại chính của ngân hàng nợ ngân hàng. Hay nói cách khác, ngân hàng đang là con nợ xấu của tiền tiết kiệm mà người dân đang ký gửi ở các ngân hàng để lấy lãi.
Một bài toán khó cho không chỉ riêng ông Thống đốc NHNNVN, mà cho tất cả mọi chuyên gia tài chính ngân hàng toàn cầu, khi những quyết định được đưa ra bằng ý chí của chính khách, chứ không giải quyết bằng cách bài bản của kinh tế tài chính học thực sự. Trong ngắn hạn, ông Thống đốc đang giải quyết tốt, nhưng trong dài hạn, tất cả những tồn đọng từ dạng này chuyển sang dạng khác theo cách giải quyết của ông, và đặc biệt, hệ lụy của xóa sổ một mảng kinh tế lớn - vàng và đô la - sẽ đẩy nền kinh tế nước Việt như một cây cổ thụ mục, rỗng ruột, chỉ còn cái vỏ, chỉ cần một cơn gió nhẹ thoảng qua, nó đổ sụp bất kỳ lúc nào không thể ai có thể đoán được.
Asia Clinic, 14h42' ngày thứ Hai, 04/11/2013

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

“VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC: MỘT MÔ HÌNH, HAI TẦM NHÌN”



“Một chuyên gia người Việt trò chuyện với BBC về quá trình phát triển của Việt Nam trong ba thập niên qua.

Ông Vũ Minh Khương, tiến sỹ đại học Harvard và hiện là giảng viên Đại học Quốc gia Singapore, cũng giải thích lý do tại sao Việt Nam không thể đạt được những thành tựu như Trung Quốc dù hai mô hình kinh tế khá giống nhau, giải thích mối liên hệ giữa xã hội dân chủ và nền kinh tế, đồng thời chỉ ra đâu là hướng đi cho Việt Nam trong tương lai giữa bối cảnh đầy khó khăn hiện nay.

Chậm tiến vì chiến thắng

BBC: Vài thập kỷ sau 'Khai phóng', Trung Quốc đã vươn mình trở thành nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới và đang leo lên vị trí ngày càng cao trên chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam cũng là quốc gia đã trải qua một quá trình tương tự dưới tên gọi 'Đổi Mới'. Ông đánh giá thế nào về sự phát triển của Việt Nam so với Trung Quốc trong ba thập kỷ qua?

Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu cuộc cải cách khi mà tình thế phát triển kinh tế theo đường lối xã hội chủ nghĩa không thành công. Cho nên tính tiếp nhận một cuộc cải cách mới là rất cao trong dân chúng.

Thế nhưng đặc điểm cải cách của hai nước có những khác biệt nhất định.

Ở Trung Quốc họ có một tầm nhìn xa, muốn có một chương trình hiện đại hóa toàn diện để Trung Quốc trở thành một cường quốc hiện đại vào trước năm 2050.

Việt Nam thì cải cách trên tình thế bí bách, bị Liên Xô cắt viện trợ và buộc phải tìm con đường đổi mới, cho nên cải cách mang tính chất thoát khỏi tình cảnh khó khăn hiện tại.

Hơn nữa, Trung Quốc thì trong suốt thời kỳ Cách mạng Văn hóa và xây dựng xã hội chủ nghĩa trước đó thì chưa để lại một thành quả gì mang tính thuyết phục trong việc nâng cao tính chính danh của đảng mình, cho nên họ buộc phải tạo nên một thành quả kinh tế kỳ vĩ.

Việt Nam thì có những chiến thắng huy hoàng trong chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, nên có thể ỷ lại thắng lợi của những cuộc chiến tranh này để duy trì sự chính danh của mình, cho nên nhiều khi trong cải cách không triệt để, mà chỉ cốt đủ ăn đủ sống. Điều này tạo ra những khiếm khuyết rất căn bản cho cải cách sâu rộng ở Việt Nam.

Vì các đặc điểm đó, cho nên lãnh đạo Việt Nam chưa đủ tầm để xác định một chiến lược kỳ vĩ, chẳng hạn như đưa Việt Nam trở thành một đất nước hùng cường vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày độc lập của mình vào năm 2045 mà thường nặng về những xoay sở để đủ tồn tại, bởi lẽ cái chính danh của quá khứ cũng tạm đủ cho họ tồn tại trong một số thập kỷ tới.

Lợi thế của lạc hậu

"Năng lực học hỏi của Đảng Cộng sản Việt Nam rất hạn chế; từ việc thu hút nhân tài, đối sánh mình với thế giới ra sao, đến việc thử nghiệm những chính sách dũng cảm, liên tục đổi mới và cải tiến, lắng nghe nhân dân."

BBC: Người Nhật phải mất hơn 40 năm mới có được vị trí hiện tại trên chuỗi giá trị toàn cầu. Nam Hàn mất 30 năm, trong khi Trung Quốc chỉ tốn hơn 20 năm. Theo ông yếu tố nào dẫn đến điều này, và nó có ý nghĩa thế nào với Việt Nam?

Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Đặc điểm của các nước đi sau đó là phát triển kinh tế rất thuận lợi. Đây gọi là lợi thế của sự lạc hậu.

Khi mình khai thác lợi thế lạc hậu này bằng cách hội nhập nhanh chóng với thế giới, tiếp nhận công nghệ và kỹ thuật của thế giới để chuyển hóa vào nước mình, cộng với đầu tư nước ngoài thì có thể rút ngắn được khoảng cách phát triển rất nhanh.

Tuy nhiên vẫn rất phải coi trọng tiếp nhận kỹ thuật và tri thức công nghệ, chứ không chỉ đơn thuần là tiếp nhận vốn đầu tư.

Trung Quốc họ hơn mình ở cái đó. Họ rất chú trọng vấn đề nhập khẩu kỹ thuật .Nếu tính về tỷ lệ nhập khẩu kỹ thuật trên GDP thì Trung Quốc đã vượt Mỹ trong thập kỷ vừa rồi.

Còn Việt Nam hầu như không có số liệu, không coi trọng vấn đề này và chỉ loay hoay thu hút đầu tư nước ngoài ở bất kể dạng gì, thiếu một tầm chiến lược xa.

Cho nên ở Việt Nam, có những thành quả trong phát triển kinh tế rất đáng trân trọng, nhưng để có một tầm trỗi dậy của một dân tộc thì chưa có.

Dân chủ và kinh tế

BBC: Trở lại với câu chuyện thành công của Trung Quốc, khi Triệu Tử Dương tiến hành cải cách kinh tế, ông tin rằng cải cách kinh tế phải đi đôi với cải cách về chính trị. Ông có đồng tình với góc nhìn của Triệu Tử Dương hay không? Và theo ông, một nền dân chủ tác động tới nền kinh tế như thế nào?

Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Tôi nghĩ Triệu Tử Dương có những ý rất đúng. Nhưng tôi vẫn khâm phục Đặng Tiểu Bình bởi tầm nhìn của ông. Bởi vì ưu tiên chiến lược là phải biến Trung Quốc thành một cường quốc, các ý tưởng cụ thể thì có thể tham khảo ở nhiều nguồn khác nhau.

Tuy nhiên cải cách kinh tế phải luôn đi đôi với cải cách xã hội và cải cách chính trị thì mới đảm bảo cho kinh tế phát triển lâu dài, còn những bước đi cụ thể của từng nước thì cái đó là do từng nước quyết định.

Nhưng tôi nghĩ dân chủ là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển. Nước Nhật từ thời cải cách Minh Trị đã nhận ra vấn đề đó. Người dân phải có tiếng nói quyết định trong tất cả những vấn đề trọng đại của đất nước. Có như vậy họ mới gắn bó với công cuộc phát triển, có như vậy đất nước mới thu hút được nhân tài, có như vậy đất nước mới trỗi dậy được.

Thiếu dân chủ giống như một đền thờ thiếu ánh sáng, sẽ có nhiều chuột bọ lúc nhúc trong đó, không thể nào có một sức hút lớn cho một dân tộc, mà nhất là dân tộc có truyền thống văn hiến lâu dài như Việt Nam ta.

"Khi nhiều thế hệ phải hy sinh mà không được đền đáp. Đó là điều chúng ta phải cùng nhau suy nghĩ."

BBC: Nhân nói về dân chủ, ông đã sống và làm vệc ở đây nhiều năm. Singapore là một nền kinh tế thành công, quốc gia với GDP bình quân trên đầu người vào hàng cao nhất thế giới. Nhưng mặt khác, Singapore cũng bị chỉ trích là không có tự do báo chí, không có tự do biểu tình. Một số ý kiến gọi Singapore là "nền dân chủ kiểu phương Đông". Ông có bình luận gì về khái niệm "nền dân chủ kiểu phương Đông" này, và ông có cho rằng đây là mô hình mà Việt Nam muốn áp dụng trong tương lai không?

Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Tôi đã sống ở Singapore hơn sáu năm. Từng ngày tôi đều cố gắng ngẫm nghĩ, chiêm nghiệm và học hỏi.

Singapore không phải là hoàn hảo, nhưng có rất nhiều điều cho Việt Nam học tập.

Cái dân chủ tự do ở trong xã hội châu Á này thì phải hiểu rằng là tạo cho con người cái tự do phát huy cao nất năng lực của mình. Cái dân chủ nghĩa là nếu người ta mong muốn làm việc gì đó cho đất nước của mình thì họ hoàn toàn có quyền lập hội, lập tổ chức, thậm chí trở thành đảng đối lập hoặc tham gia vào chính đảng cầm quyền.

Cái hay trong xã hội dân chủ ở đây, là đảng cầm quyền - Đảng Hành động Nhân dân (PAP), rất lo bị mất ghế trong Quốc hội, cho nên luôn luôn tìm kiếm tài năng để thu nhập vào đảng của mình. Nếu để đảng đối lập giành được người đó thì họ phải có người giỏi hơn để có thể thắng cử được. Cho nên trọng dụng nhân tài, chiến lược phát triển và tranh thủ lòng dân là ý thức rất cao trong từng quan chức chính phủ ở Singapore, cho từng cán bộ đảng PAP ở đây.

Yếu tố dân chủ mà theo định nghĩa đó, thì tôi thấy rất mạnh mẽ ở Singapore này. Và cái đó, tôi mong từng ngày sẽ được người Việt Nam ta nghiên cứu, áp dụng. Đó sẽ là khởi đầu cho dân tộc Việt Nam trỗi dậy trong tình thế khó khăn và thách thức hiện nay.

Con đường tương lai

BBC: Hai khó khăn chính của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là khu vực ngân hàng và khối doanh nghiệp nhà nước. Trước mắt, chính phủ đang phải cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, minh bạch hóa khu vực ngân hàng, thậm chí có thể phải giảm bớt sở hữu tại các ngân hàng thương mại để thu hút vốn ngoại. Đây có phải là xu hướng cho thấy trong tương lai, chính phủ sẽ phải giảm đáng kể sự kiểm soát đối với nền kinh tế? Điều này có ý nghĩa gì cho tương lai Việt Nam?

Tôi nhìn lại các điểm hạn chế trong phát triển của Việt Nam thì tôi thấy có ba điểm phải chú ý, hơn là mình nhìn vào một vài vấn đề kỹ thuật mang tính chất ngắn hạn hoặc là rất cụ thể như doanh nghiệp nhà nước hoặc là hệ thống ngân hàng.

Tôi nhìn thấy những vấn đề rất lớn, rất nổi trội mà Việt Nam thua kém rất xa so với Trung Quốc và với nhiều nước khác.

Thứ nhất là không có một chiến lược phát triển dài hạn để nhìn thấy đâu là sức mạnh của dân tộc mình, đâu là cơ hội và thách thức trên thế giới, đâu là mục tiêu mà chúng ta sẽ đi tới trong vòng vài thập kỷ nữa. Tất cả đều không rõ.

Thứ hai là năng lực học hỏi của Đảng Cộng sản Việt Nam rất hạn chế; từ việc thu hút nhân tài, đối sánh mình với thế giới ra sao, trong việc thử nghiệm những chính sách dũng cảm, trong việc liên tục đổi mới và cải tiến, lắng nghe nhân dân.

Những đặc điểm đó làm đất nước mình ngày càng tụt lùi.

Khi năng lực học hỏi được nâng lên, khi chiến lược phát triển kinh tế được hoạch định sắc bén và triệt để thì đất nước sẽ trỗi dậy. Khi đó những bài toán cụ thể như cải cách ngân hàng ra sao, cải cách doanh nghiệp nhà nước thế nào, hoặc thậm chí những vấn đề rất đơn giản như chống lại chuyển giá của các doanh nghiệp nước ngoài, thì mình đều có những tổ công tác đánh giá trên cái nhìn toàn cầu là tại sao lại như vậy? Ta có thể biến khó khăn thành cơ hội như thế nào ở đất nước mình?

Những điều này tôi nghĩ chúng ta phải nghiên cứu thấu đáo, trên tầm nhìn chiến lược, với năng lực học hỏi rất cao, mà cái cốt lõi là phải thu hút được nhân tài ở khắp nơi.

Tôi rất cảm kích trong đợt lễ tang của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi thấy đây là một cuộc biểu dương lực lượng của vũ khí chiến lược Việt Nam, đó là tinh thần dân tộc người Việt Nam rất lớn. Đây chỉ là sự thể hiện một phần, một cuộc diễu binh lớn, một sự thể hiện để chứng mình rằng nếu chúng ta không xứng đáng với khát vọng lớn của dân tộc, chúng ta sẽ thất bại.

Đó là cái giá rất đắt, khi nhiều thế hệ phải hy sinh mà không được đền đáp. Đó là điều chúng ta phải cùng nhau suy nghĩ.

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

Giật mình với thu nhập của người Việt Nam so với khu vực

Thứ Năm, 05/04/2012 22:40

Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.


Thu nhập trung bình của người Việt Nam vẫn còn khoảng cách rất xa so với các nước trong ASEAN và Trung Quốc, dù đã được cải thiện nhiều do đổi mới và mở cửa cách đây hơn một phần tư thế kỷ.
Một góc vùng quê Bạc Liêu
Trong khi đó, cơ hội để Việt Nam đuổi kịp Trung Quốc và các nền kinh tế ASEAN sẽ vẫn là viễn cảnh xa vời, nếu thiếu đi những động lực cải cách hơn nữa.
Đây là cảnh báo của một đề tài khoa học cấp nhà nước mang tên “Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020: từ nhận thức với hành động” do ĐH Kinh tế Quốc dân thực hiện. Báo cáo này, thực hiện theo yêu cầu của Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, trích dẫn số liệu về thu nhập của Việt Nam và các quốc gia khu vực do Quỹ Tiền tệ Quốc tế thực hiện năm 2010.
Theo đó, tính theo tỷ giá hối đoái, GDP đầu người của Việt Nam đã tăng từ mức 114 USD năm 1991 lên 1.061 USD năm 2010. Trong khi đó, GDP đầu người của Trung Quốc tăng từ 353 USD lên 3.915 USD trong khoảng thời gian trên.
Như vậy, thu nhập đầu người của Việt Nam tương đương 32% của Trung Quốc năm 1991 đã giảm xuống còn 27% năm 2010.
Mặt khác, tính theo sức mua tương đương (PPP), GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt 706 USD năm 1991 và lên tới 2.948 USD năm 2010. Trong khoảng thời gian đó, con số này của Trung Quốc tăng từ 888 USD lên 6.786 USD.
Như vậy, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam bằng 80% của Trung Quốc năm 1991 đã giảm xuống còn 43% năm 2010.
Bên cạnh đó, so với các quốc gia ASEAN khác, dù thu nhập của người Việt Nam đã dần được thu hẹp trong 20 năm qua, khoảng cách vẫn còn rất lớn ở vào thời điểm hiện tại.
Tiến sĩ Phạm Hồng Chương và các đồng sự ở ĐH Kinh tế Quốc dân cho biết, GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP chưa bằng 1/2 của Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/10 của Malaysia năm 1991.
Con số này đã vượt qua mức 3/4, 1/3 và 1/5 của các nước trên sau gần 20 năm.

Tóm lại, quy mô GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2010 đạt 1.061 USD tính theo tỷ giá hối đoái, và 2.948 USD theo PPP.
Tiến sĩ Phạm Hồng Chương nhận xét: “Đây là những chỉ số còn thấp xa so với mức bình quân chung của khu vực, của châu Á và thế giới”. Ông nhận xét, sau hơn một phần tư thế kỷ đổi mới và mở của, Việt Nam đã chuyển từ nhóm nước có thu nhập thấp sang nhóm thu nhập trung bình, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới.
Tuy nhiên, theo ông Chương, xét về nhiều mặt, động thái tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chưa thể hiện rõ quyết tâm và khả năng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu phát triển. Trong khi đó, trong một vài năm gần đây, nền kinh tế còn bộc lộ nhiều rủi ro tiềm ẩn về tính bền vững của quá trình tăng trưởng.
Báo cáo của ĐH Kinh tế Quốc dân chỉ ra thêm về thực trạng thất nghiệp ở mức 4,6% ở thành thị và 20% lao động ở nông thôn chưa được sử dụng; báo cáo nhận xét: “Như vậy, tỷ lệ trên tương đương với trên 10 triệu lao động thất nghiệp hoàn toàn ở Việt Nam”.
Thu nhập của người Việt Nam bị bỏ lại quá xa bởi các nước trong khu vực không phải là vấn đề mới.
Theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.

Báo cáo này căn cứ vào tốc độ tăng trưởng thu nhập trên đầu người tính theo giá cố định trong giai đoạn 2001 – 2007 của các quốc gia và kết luận “thực tế là Việt Nam sẽ phải rất lâu mới theo kịp được”.
Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

TPP Từ Góc Nhìn Của Alan

28 July 2013

Bất hạnh giúp ta thử thách tình bạn và nhận diện kẻ thù (Misfortune tests friends and detects enemies) Proverb
Trong những buổi nói chuyện của tôi gần đây, câu hỏi “hot” nhất của mọi doanh nhân từ Việt, ASEAN…đến Mỹ và Trung Quốc…là chuyện gia nhập của Việt Nam vào Hiệp Ước Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) với 10 quốc gia và 2 đại cường kinh tế, Mỹ Nhật. GDP của các hội viên TPP chiếm đến 40% GDP toàn cầu. Nhiều chuyên gia cho rằng TPP là một sách lược của Mỹ để chống sự bành trướng kinh tế của Trung Quốc.
Căn bản của quyền lợi
Trước khi đi sâu về phân tích, tôi xin nói rõ là tôi không có một thông tin nào ngoài những tin tức bình luận trên các mạng truyền thông. Và tôi cũng không thể bàn sâu vào góc cạnh chính trị của sự kiện quan trọng này vì lý do đơn giản là “pháp luật” của Việt Nam không cho phép.
Trước hết, theo kinh nghiệm làm ăn và các cuộc thương thuyết trong lịch sử, hay chỉ đơn giản giữa 2 người “dân đen”, bất cứ một giao dịch thành công nào cũng đòi hỏi sự thỏa mãn tối thiểu giữa hai bện hay nhiều bên. Thuận mua vừa bán. Sự đổi chác về quyền hay lợi đều dựa trên căn bản: tôi được gì và mất gì trong giao dịch này? Dù có thể một bên thiếu xuy sét và hoang ưởng trong kỳ vọng (gọi là ngu xuẩn) nhưng vào thời điểm giao dịch, họ đều thương lượng gay gắt để đạt được điều mình muốn.
Do đó, muốn hiểu rõ hơn về sự gia nhập của Viêt Nam vào TPP, ta phải trở lại vấn đề căn bản: Việt Nam muốn gì và Mỹ muốn gì? Dĩ nhiên 10 nước còn lại cũng có những lợi ích quốc gia riêng của họ, nhưng với sự chi phối và với vai trò đầu đàn, Mỹ có thể “thuyết phục” họ khá dễ dàng.
Một sinh viên trẻ cũng có thể đọc báo để thấyViệt Nam muốn gì từ TPP:  thị trường béo bở và rông mở của 2 quốc gia Mỹ Nhật.  Hiện nay, Viêt Nam đang xuất khẩu hơn 20 tỷ USD qua thị trường Mỹ và 9 tỷ USD qua thị trường Nhật (khoảng 25% của GDP). Xuất siêu từ Mỹ lên đến 15 tỷ USD mỗi năm. Nếu được hưởng hàng rào thuế quan ưu đãi dành cho hội viên (gần bằng 0% cho phần lớn mặt hàng), lượng xuất khẩu Việt Nam qua TPP sẽ tăng gấp 2 lần, chỉ cần nhờ vào lợi thế cạnh tranh duy nhất này.
Những suy đoán sai lầm
Nhiều nhà phân tích cho rằng Việt Nam cũng muốn tìm các đồng minh chiến lược mới, nhất là Mỹ, để hóa giải ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc về chánh trị và quân sự tại Biển Đông và sự áp đặt về cơ chế. Tôi không tin điều này. Việt Nam đã liên tục khẳng định “16 chữ vàng và 6 cái tốt” trong 80 năm lịch sử và gần đây nhất là vào 10 văn kiện vừa ký kết trong tháng 6 năm nay.
Trái với những suy đoán trước đây, tôi cho rằng thực sự Trung Quốc đang đứng sau và khuyến khích Việt Nam gia nhập TPP để họ có thể hưởng lợi gián tiếp từ khía cạnh kinh tế (sau khi đã nắm kỹ các yếu tô khác về đồng minh Việt).
Ba năm trước, tôi có tham dự nhiều buổi “trình diễn” (road show) tại Trung Quốc do các quỹ tư nhân ASEAN tìm nhà đầu tư vào Việt Nam. Phần lớn “không quan tâm” là câu trả lời. Trung Quốc đang xuất khẩu qua Việt Nam 29 tỷ USD mỗi năm (nhập siêu là 18 tỷ USD) chiếm đến 25% của GDP Việt mà không tốn sức lắm. Nhận xét chung của các doanh nhân Trung Quốc là việc đầu tư vào Việt Nam là một việc làm “thừa thãi”.
Tuy nhiên, 6 tháng vừa qua, tôi nhận liên tiếp những cuộc gọi và viếng thăm của doanh nhân Trung Quốc. Họ bắt đầu quan tâm đến việc thiết lập nhà máy tại Việt Nam để hưởng lợi từ TPP. Chẳng hạn hàng may mặc xuất từ Trung Quốc vào Mỹ phải chịu thuế hải quan là 20% đến 40%. Với TPP, nhà máy tại Việt Nam sẽ thâu lợi ngay khoản chi phí này và các quyền lợi khác mà Việt Nam thường ưu đãi cho các dự án FDI. Tôi nghĩ chánh phủ Trung Quốc rất thú vị nếu dùng được bàn đạp Việt trong trận chiến kinh tế với Mỹ. Với hơn 80% sản phẩm Việt xuất khẩu phải tùy thuộc vào linh kiện và nguyên liệu từ Trung Quốc, mối lợi cho Trung Quốc sẽ tăng lũy tiến với TPP. Có thể nói, Trung Quốc sẽ hưởng lợi từ TPP nhiều hơn là Việt Nam.
Nhìn từ phía Mỹ
Dĩ nhiên, các chuyên gia Mỹ không ngu gì mà không biết những gì Trung Quốc và Việt Nam sẽ hưởng từ TPP. Tuy nhiên, cái gót chân Achilles của nước Mỹ luôn luôn là các chính trị gia và những nhóm lợi ích quyền lực, nhất là nhóm tài phiệt Mỹ (gốc Do Thái).
Trước hết, nhóm tư bản tài chánh của Mỹ không bao giờ quan tâm đến quyền lợi quốc gia. Với họ, toàn cầu hóa và lợi nhuận tối đa là mục tiêu chính. Những yếu tố khác như chánh trị hay quân sự là chuyện “người khác”. Vì sự hấp dẫn của thị trường 1.3 tỷ dân mà họ đã lao đầu không suy nghĩ vào Trung Quốc. Cho đến nay, qua các nguồn tài trợ, họ đã giúp Trung Quốc cất cánh và trở thành một đối thủ đáng quan ngại của Mỹ. Vì số lượng khủng của petrodollars (tiền thâu nhập từ dầu khí) mà giới tài chánh Wall Street ủng hộ các vương quốc và chế độ độc tài (kể cả việc đẩy Mỹ vào trận chiến Iraq). TPP là một miếng mồi ngon cho các tập đoàn này.
Ngay sau đó là phe chính trị “tả phái” của Mỹ, hiện bao gồm những trí thức tháp ngà và các nhà hoạt động xã hội trẻ (hơi dư thừa lý tưởng). Phe tả luôn thích ra tay “giúp” người nghèo hay nước nghèo qua OPM (tiền người khác). Với lá phiếu của thành phần “hưởng đủ mọi phúc lợi của xã hội mà không đóng thuế” đang chiếm đến 53% số cử tri, phe tả đang nằm trong thời kỳ vàng son của đủ mọi chương trình OPM. Lãnh đạo số 1 và tiêu biểu cho phe tả là ngài Barrack Obama.
Có thể nói Obama là một chuyên gia cao cấp về OPM. Sinh ra trong một gia đình hưởng nhiều phúc lợi (welfare benefits) vì cha mẹ nghèo, Obama đã hiểu ngay từ thời thơ ấu về sự hấp dẫn của OPM. Sau khi tốt nghiệp luật sư, chàng Obama chọn làm một nhà tổ chức cộng đồng (community organizer) hoàn toàn sống nhờ vào các chương trình xã hội từ tiền ngân sách của các chánh phủ liên bang và địa phương. Có thể nói, Obama và phe nhóm đã dùng OPM để leo lên tuyệt đỉnh của danh vọng.
Việc Obama tung chút tiền vào cá cược TPP cho Việt Nam cũng là một điều dễ hiểu. Các lãnh đạo Việt Nam đã thuyết phục Obama với ngôn ngữ OPM và chủ nghĩa xã hội mà Obama rất am hiểu. Thực ra, nếu nói về OPM, quan chức Việt Nam phải là sư phụ của Obama. Thay vì qua Việt Nam thăm viếng, tôi nghe đồn là Obama định dự một khóa tu nghiệp dài hạn về OPM tại Hà Nội sau khi thôi làm Tổng Thống Mỹ.
Cuối cùng, giới quân sự của Mỹ luôn luôn “yêu” chiến tranh, nơi sự nghiệp và quyền lợi của họ gắn liền vào cái gọi là “an ninh quốc gia” và “cảnh sát quốc tế”. Dù họ biết thừa về khả năng rủi ro khi đổ quân vào các xứ lạ, họ cũng biết là không có một cuộc chiến nào mà không đem thêm quyền lực và tiền bạc cho phe nhóm (dĩ nhiên cũng là OPM). Mộng ước biến Việt Nam thành một đồng minh chiến lược có lẽ sẽ tan theo mây khói khi Mỹ thực sự đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông; nhưng đối với những phí tổn đang phung phí toàn cầu, thì cái giá phải trả cho tư duy sai lầm này của phe quân sự Mỹ sẽ rất nhỏ và có thể xếp vào loại “thử và sai” (trial and error).
Rào cản còn lại
Ba nhóm trên đã bắt tay để bỏ qua quyền lợi kinh tế của quốc gia để theo đuổi một chánh sách nhiều “hoang tưởng”, nhất là khi nghĩ rằng Việt Nam sẽ thành một con cờ để “cân bằng” Trung Quốc trong địa chánh trị toàn cầu.
Nhiều người cho rằng vấn đề nhân quyền và dân chủ sẽ là một rào cản ngăn Việt Nam gia nhập TPP. Phe nhóm Obama sẽ cố “vận động dư luận” để thỏa mãn phần nào đòi hỏi của phe hữu và khối cử tri Việt Kiều về vấn đề này. Nhưng trong cốt lũy của các nhóm lợi ích này, “nhân quyền hay dân chủ” không bao giờ là mục tiêu, mà chỉ là “miệng lưỡi đầu môi” (lip service). Trong khi đó, phần lớn cử tri Mỹ khác sẽ không quan tâm vì đây là chuyện quá nhỏ trong đời sống bình nhật của người dân Mỹ. Nếu có cuộc khảo sát về TPP, tôi chắc là 90% dân Mỹ sẽ nghĩ nó là chữ viết tắt cho một hiệp hội quần vợt mới của Mỹ.
Do đó, trong bản thông cáo chung của ông Obama và ông Sang, hai bên cam kết là sẽ hoàn tất việc Việt Nam gia nhập TPP vào cuối năm. Nếu đúng vậy, đây sẽ là thắng lợi lớn lao cho quan chức Việt Nam, Trung Quốc và vài ba nhóm lợi ích của Mỹ.
May vẫn hơn hay
Tuy nhiên, nó cũng sẽ giúp sự hồi phục của nền kinh tế Việt sớm hơn dự đoán nhờ sự gia tăng về xuất khẩu và đầu tư FDI từ nhiều nơi, nhất là Trung Quốc. Trong tình thế gần như tuyệt vọng của nền kinh tế Việt, TPP sẽ là một phép mầu và ân sủng từ Thượng Đế. Lá số tử vi của quan chức Việt và Tàu quả thật là đầy sao may mắn.
Về phía Mỹ, sự thất vọng gần như chắc chắn trong 5 năm sắp tới khi các nhà tư bản Mỹ nhận ra là những số liệu thống kê và báo cáo tài chánh của các đối tác Việt Nam còn tệ hơn tiểu thuyết; và các nhà chính trị quân sự thấm hiểu lời khuyên về việc “đừng nghe những gì họ nói”…
Kẻ cắp khi gặp bà già …thì cũng phải bó tay.
Alan Phan