Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

TẠM THỜI CHO NGẮN HẠN NHƯNG XẤU DÀI HẠN

Bài đọc liên quan:
Hôm khai mạc hội nghị trung ương 8 vừa qua, ông thủ tướng đọc báo cáo tại hội nghị trung ương 8 đang diễn ra có đoạn, kinh tế vĩ mô tạm ổn sau hơn 2 năm thực thi nghị quyết 11/2011. Lạm phát đã được thủ tiêu. Niềm tin dân chúng vào đồng tiền đã được củng cố. Tình trạng đô la hóa và vàng hóa thị trường đã được kiểm soát. Tăng trưởng tuy không đạt như mong muốn, nhưng tốt trong tình trạng kinh tế đang suy thoái trong nước và toàn cầu. Tất cả những điểm sáng này là do một tay ông Thống đốc NHNNVN Nguyễn Văn Bình làm ra, dĩ nhiên có sự góp phần của các bộ, ban ngành khác.

Từ tháng 8/2011 ông Nguyễn Văn Bình nhậm chức Thống đốc NHNN VN là lúc dầu sôi lửa bỏng. Lãi suất ngân hàng kịch trần lên đến 28 - 30%/năm. Lạm phát của năm đứng hàng thứ 2 trên thế giới - chỉ sau Venezuela 29.6% - khoảng 17.15%. Bong bóng bất động sản xì hơi giai đoạn khốc liệt nhất. Nợ xấu tràn lan, doanh nghiệp chờ ngày chết, và đóng cửa hàng loạt. Sức mua của dân cạn kiệt sau nghị quyết 11/2011 được ban hành. Kinh tế vĩ mô khốn đốn. Mọi hậu quả đó là do người tiền nhiệm để lại. Ông phải tháo gỡ khó khăn.
Có 3 vấn đề về mặt ngắn hạn ông Thống đốc NHNNVN làm tốt cho ngắn hạn, nhưng cũng là cái xấu cho dài hạn của nền kinh tế nước nhà.
Vấn đề độc quyền kinh doanh vàng và đô là là một việc tốt. Nó đã giúp đảng cầm quyền đem về lợi nhuận gần 6.500 tỷ để góp vào ngân sách nhà nước đang thiếu hụt vì tình trạng kinh tế đang khốn đốn. Nó đã giúp tình trạng vàng hóa và đô la hóa bị tiêu diệt. Nhưng về dài hạn, nó đã góp phần làm tê liệt một mảng lớn của kinh tế vĩ mô của đất nước - tài nguyên, vàng đô la và chứng khoán. Điều này kéo theo đồng tiền sẽ bị nằm trong ao tù nước đọng, dẫn đến kinh tế ngoài nhà nước thiếu hụt tư bản đầu tư, và các doanh nghiệp tư nhân sẽ khốn đốn. Trong khi đó, doanh nghiệp ngòai nhà nước đóng góp đến hơn 60% GDP của đất nước. Còn nhớ những năm đầu 1990s cũng độc quyền vàng đô la, thị trường heo hút, sau đó xóa độc quyền thị trường trở nên sôi động và kinh tế thoát hiểm. Cambodia cứ thả cửa cho đô la và vàng hóa, nhưng đồng tiền của họ vẫn mạnh hơn đồng tiền Việt và không lạm phát, đồng đô la cũng không giết được đồng Ria.
Tăng lãi suất kịch trần và hạ lãi suất chậm chạp là vấn đề thứ hai ông Bình đang cố gắng làm, để khởi động lại dòng tiền tín dụng đến các doanh nghiệp đang khát vốn, và cứu lấy bong bóng bất động sản đang xì hơi đến kiệt quệ. Giai đoạn tăng lãi suất kịch trần nhằm giảm lạm phát. Sau khi kinh tế suy sụp, sức mua của dân cạn kiệt, tình trạng lạm phát không thể xảy ra dù giá xăng dầu tăng đến 3 lần trong 1 tháng, là bắt đầu lúc ông Bình hạ lãi suất ngân hàng đến 3 lần liên tiếp. Điều này đúng, nhưng lúc này việc hạ trần lãi suất lại không có tác dụng vì; Dư nợ vay tín dụng của các ngân hàng ở lãi suất cũ quá cao; thiếu thanh khoản ở các ngân hàng đang ở giai đoạn tầm trọng vì đóng băng bất động sản; khả năng cho vay của các ngân hàng lại kém, vì doanh nghiệp sắp chết thì không đủ điều kiện cho vay, doanh nghiệp làm ăn được thì thu nhỏ thị trường không cần phải vay. Hậu quả là, toàn hệ thống ngân hàng như con rắn đang tự ăn cái đuôi của mình cho đến khi tự nuốt đến cái đầu.
Giải quyết nợ xấu là lĩnh vực ông Thống đốc làm cũng tốt cho đến bay giờ. Mua bán và sáp nhập các NH mất khả năng chi trả vào những ngân hàng còn mạnh, và đang là chủ nợ của ngân hàng kia, là một việc làm đúng của ông. Nhưng nó lại làm 2 cái nợ nhỏ gộp thành một cái nợ to, cũng chỉ là giải pháp tình huống trong lúc bỉ cực. Không còn cách nào khác, vì không thể làm sụp bất kỳ một ngân hàng nào trong lúc này sẽ kéo theo chuỗi domino kinh tế sụp đổ, và có thể kéo theo động loạn chính trị. Từ đây nợ xấu bắt đầu hiển hiện, và việc hình thành VAMC - công ty mua bán nợ xấu quốc gia - mua một đống nợ xấu nhưng không biết sẽ bán nó cho ai? Một cách giật gấu vá vai trì hoãn thời điểm tử vong của một con bệnh nan y.
Nhiều bài viết về ông Thống đốc ngân hàng nhà nước đương nhiệm - Nguyễn Văn Bình - đa số đều chê, chưa thấy lời khen. Thực ra, việc ông Bình làm trong gần 3 năm qua có cái tốt ngắn hạn, lại là cái xấu trong dài hạn. Nhìn bề ngoài là kinh tế đang phục hồi, và các khoản nợ xấu đang được giải quyết ổn thỏa, nhưng nợ xấu của ngân hàng lại chính của ngân hàng nợ ngân hàng. Hay nói cách khác, ngân hàng đang là con nợ xấu của tiền tiết kiệm mà người dân đang ký gửi ở các ngân hàng để lấy lãi.
Một bài toán khó cho không chỉ riêng ông Thống đốc NHNNVN, mà cho tất cả mọi chuyên gia tài chính ngân hàng toàn cầu, khi những quyết định được đưa ra bằng ý chí của chính khách, chứ không giải quyết bằng cách bài bản của kinh tế tài chính học thực sự. Trong ngắn hạn, ông Thống đốc đang giải quyết tốt, nhưng trong dài hạn, tất cả những tồn đọng từ dạng này chuyển sang dạng khác theo cách giải quyết của ông, và đặc biệt, hệ lụy của xóa sổ một mảng kinh tế lớn - vàng và đô la - sẽ đẩy nền kinh tế nước Việt như một cây cổ thụ mục, rỗng ruột, chỉ còn cái vỏ, chỉ cần một cơn gió nhẹ thoảng qua, nó đổ sụp bất kỳ lúc nào không thể ai có thể đoán được.
Asia Clinic, 14h42' ngày thứ Hai, 04/11/2013

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

“VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC: MỘT MÔ HÌNH, HAI TẦM NHÌN”



“Một chuyên gia người Việt trò chuyện với BBC về quá trình phát triển của Việt Nam trong ba thập niên qua.

Ông Vũ Minh Khương, tiến sỹ đại học Harvard và hiện là giảng viên Đại học Quốc gia Singapore, cũng giải thích lý do tại sao Việt Nam không thể đạt được những thành tựu như Trung Quốc dù hai mô hình kinh tế khá giống nhau, giải thích mối liên hệ giữa xã hội dân chủ và nền kinh tế, đồng thời chỉ ra đâu là hướng đi cho Việt Nam trong tương lai giữa bối cảnh đầy khó khăn hiện nay.

Chậm tiến vì chiến thắng

BBC: Vài thập kỷ sau 'Khai phóng', Trung Quốc đã vươn mình trở thành nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới và đang leo lên vị trí ngày càng cao trên chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam cũng là quốc gia đã trải qua một quá trình tương tự dưới tên gọi 'Đổi Mới'. Ông đánh giá thế nào về sự phát triển của Việt Nam so với Trung Quốc trong ba thập kỷ qua?

Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu cuộc cải cách khi mà tình thế phát triển kinh tế theo đường lối xã hội chủ nghĩa không thành công. Cho nên tính tiếp nhận một cuộc cải cách mới là rất cao trong dân chúng.

Thế nhưng đặc điểm cải cách của hai nước có những khác biệt nhất định.

Ở Trung Quốc họ có một tầm nhìn xa, muốn có một chương trình hiện đại hóa toàn diện để Trung Quốc trở thành một cường quốc hiện đại vào trước năm 2050.

Việt Nam thì cải cách trên tình thế bí bách, bị Liên Xô cắt viện trợ và buộc phải tìm con đường đổi mới, cho nên cải cách mang tính chất thoát khỏi tình cảnh khó khăn hiện tại.

Hơn nữa, Trung Quốc thì trong suốt thời kỳ Cách mạng Văn hóa và xây dựng xã hội chủ nghĩa trước đó thì chưa để lại một thành quả gì mang tính thuyết phục trong việc nâng cao tính chính danh của đảng mình, cho nên họ buộc phải tạo nên một thành quả kinh tế kỳ vĩ.

Việt Nam thì có những chiến thắng huy hoàng trong chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, nên có thể ỷ lại thắng lợi của những cuộc chiến tranh này để duy trì sự chính danh của mình, cho nên nhiều khi trong cải cách không triệt để, mà chỉ cốt đủ ăn đủ sống. Điều này tạo ra những khiếm khuyết rất căn bản cho cải cách sâu rộng ở Việt Nam.

Vì các đặc điểm đó, cho nên lãnh đạo Việt Nam chưa đủ tầm để xác định một chiến lược kỳ vĩ, chẳng hạn như đưa Việt Nam trở thành một đất nước hùng cường vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày độc lập của mình vào năm 2045 mà thường nặng về những xoay sở để đủ tồn tại, bởi lẽ cái chính danh của quá khứ cũng tạm đủ cho họ tồn tại trong một số thập kỷ tới.

Lợi thế của lạc hậu

"Năng lực học hỏi của Đảng Cộng sản Việt Nam rất hạn chế; từ việc thu hút nhân tài, đối sánh mình với thế giới ra sao, đến việc thử nghiệm những chính sách dũng cảm, liên tục đổi mới và cải tiến, lắng nghe nhân dân."

BBC: Người Nhật phải mất hơn 40 năm mới có được vị trí hiện tại trên chuỗi giá trị toàn cầu. Nam Hàn mất 30 năm, trong khi Trung Quốc chỉ tốn hơn 20 năm. Theo ông yếu tố nào dẫn đến điều này, và nó có ý nghĩa thế nào với Việt Nam?

Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Đặc điểm của các nước đi sau đó là phát triển kinh tế rất thuận lợi. Đây gọi là lợi thế của sự lạc hậu.

Khi mình khai thác lợi thế lạc hậu này bằng cách hội nhập nhanh chóng với thế giới, tiếp nhận công nghệ và kỹ thuật của thế giới để chuyển hóa vào nước mình, cộng với đầu tư nước ngoài thì có thể rút ngắn được khoảng cách phát triển rất nhanh.

Tuy nhiên vẫn rất phải coi trọng tiếp nhận kỹ thuật và tri thức công nghệ, chứ không chỉ đơn thuần là tiếp nhận vốn đầu tư.

Trung Quốc họ hơn mình ở cái đó. Họ rất chú trọng vấn đề nhập khẩu kỹ thuật .Nếu tính về tỷ lệ nhập khẩu kỹ thuật trên GDP thì Trung Quốc đã vượt Mỹ trong thập kỷ vừa rồi.

Còn Việt Nam hầu như không có số liệu, không coi trọng vấn đề này và chỉ loay hoay thu hút đầu tư nước ngoài ở bất kể dạng gì, thiếu một tầm chiến lược xa.

Cho nên ở Việt Nam, có những thành quả trong phát triển kinh tế rất đáng trân trọng, nhưng để có một tầm trỗi dậy của một dân tộc thì chưa có.

Dân chủ và kinh tế

BBC: Trở lại với câu chuyện thành công của Trung Quốc, khi Triệu Tử Dương tiến hành cải cách kinh tế, ông tin rằng cải cách kinh tế phải đi đôi với cải cách về chính trị. Ông có đồng tình với góc nhìn của Triệu Tử Dương hay không? Và theo ông, một nền dân chủ tác động tới nền kinh tế như thế nào?

Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Tôi nghĩ Triệu Tử Dương có những ý rất đúng. Nhưng tôi vẫn khâm phục Đặng Tiểu Bình bởi tầm nhìn của ông. Bởi vì ưu tiên chiến lược là phải biến Trung Quốc thành một cường quốc, các ý tưởng cụ thể thì có thể tham khảo ở nhiều nguồn khác nhau.

Tuy nhiên cải cách kinh tế phải luôn đi đôi với cải cách xã hội và cải cách chính trị thì mới đảm bảo cho kinh tế phát triển lâu dài, còn những bước đi cụ thể của từng nước thì cái đó là do từng nước quyết định.

Nhưng tôi nghĩ dân chủ là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển. Nước Nhật từ thời cải cách Minh Trị đã nhận ra vấn đề đó. Người dân phải có tiếng nói quyết định trong tất cả những vấn đề trọng đại của đất nước. Có như vậy họ mới gắn bó với công cuộc phát triển, có như vậy đất nước mới thu hút được nhân tài, có như vậy đất nước mới trỗi dậy được.

Thiếu dân chủ giống như một đền thờ thiếu ánh sáng, sẽ có nhiều chuột bọ lúc nhúc trong đó, không thể nào có một sức hút lớn cho một dân tộc, mà nhất là dân tộc có truyền thống văn hiến lâu dài như Việt Nam ta.

"Khi nhiều thế hệ phải hy sinh mà không được đền đáp. Đó là điều chúng ta phải cùng nhau suy nghĩ."

BBC: Nhân nói về dân chủ, ông đã sống và làm vệc ở đây nhiều năm. Singapore là một nền kinh tế thành công, quốc gia với GDP bình quân trên đầu người vào hàng cao nhất thế giới. Nhưng mặt khác, Singapore cũng bị chỉ trích là không có tự do báo chí, không có tự do biểu tình. Một số ý kiến gọi Singapore là "nền dân chủ kiểu phương Đông". Ông có bình luận gì về khái niệm "nền dân chủ kiểu phương Đông" này, và ông có cho rằng đây là mô hình mà Việt Nam muốn áp dụng trong tương lai không?

Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Tôi đã sống ở Singapore hơn sáu năm. Từng ngày tôi đều cố gắng ngẫm nghĩ, chiêm nghiệm và học hỏi.

Singapore không phải là hoàn hảo, nhưng có rất nhiều điều cho Việt Nam học tập.

Cái dân chủ tự do ở trong xã hội châu Á này thì phải hiểu rằng là tạo cho con người cái tự do phát huy cao nất năng lực của mình. Cái dân chủ nghĩa là nếu người ta mong muốn làm việc gì đó cho đất nước của mình thì họ hoàn toàn có quyền lập hội, lập tổ chức, thậm chí trở thành đảng đối lập hoặc tham gia vào chính đảng cầm quyền.

Cái hay trong xã hội dân chủ ở đây, là đảng cầm quyền - Đảng Hành động Nhân dân (PAP), rất lo bị mất ghế trong Quốc hội, cho nên luôn luôn tìm kiếm tài năng để thu nhập vào đảng của mình. Nếu để đảng đối lập giành được người đó thì họ phải có người giỏi hơn để có thể thắng cử được. Cho nên trọng dụng nhân tài, chiến lược phát triển và tranh thủ lòng dân là ý thức rất cao trong từng quan chức chính phủ ở Singapore, cho từng cán bộ đảng PAP ở đây.

Yếu tố dân chủ mà theo định nghĩa đó, thì tôi thấy rất mạnh mẽ ở Singapore này. Và cái đó, tôi mong từng ngày sẽ được người Việt Nam ta nghiên cứu, áp dụng. Đó sẽ là khởi đầu cho dân tộc Việt Nam trỗi dậy trong tình thế khó khăn và thách thức hiện nay.

Con đường tương lai

BBC: Hai khó khăn chính của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là khu vực ngân hàng và khối doanh nghiệp nhà nước. Trước mắt, chính phủ đang phải cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, minh bạch hóa khu vực ngân hàng, thậm chí có thể phải giảm bớt sở hữu tại các ngân hàng thương mại để thu hút vốn ngoại. Đây có phải là xu hướng cho thấy trong tương lai, chính phủ sẽ phải giảm đáng kể sự kiểm soát đối với nền kinh tế? Điều này có ý nghĩa gì cho tương lai Việt Nam?

Tôi nhìn lại các điểm hạn chế trong phát triển của Việt Nam thì tôi thấy có ba điểm phải chú ý, hơn là mình nhìn vào một vài vấn đề kỹ thuật mang tính chất ngắn hạn hoặc là rất cụ thể như doanh nghiệp nhà nước hoặc là hệ thống ngân hàng.

Tôi nhìn thấy những vấn đề rất lớn, rất nổi trội mà Việt Nam thua kém rất xa so với Trung Quốc và với nhiều nước khác.

Thứ nhất là không có một chiến lược phát triển dài hạn để nhìn thấy đâu là sức mạnh của dân tộc mình, đâu là cơ hội và thách thức trên thế giới, đâu là mục tiêu mà chúng ta sẽ đi tới trong vòng vài thập kỷ nữa. Tất cả đều không rõ.

Thứ hai là năng lực học hỏi của Đảng Cộng sản Việt Nam rất hạn chế; từ việc thu hút nhân tài, đối sánh mình với thế giới ra sao, trong việc thử nghiệm những chính sách dũng cảm, trong việc liên tục đổi mới và cải tiến, lắng nghe nhân dân.

Những đặc điểm đó làm đất nước mình ngày càng tụt lùi.

Khi năng lực học hỏi được nâng lên, khi chiến lược phát triển kinh tế được hoạch định sắc bén và triệt để thì đất nước sẽ trỗi dậy. Khi đó những bài toán cụ thể như cải cách ngân hàng ra sao, cải cách doanh nghiệp nhà nước thế nào, hoặc thậm chí những vấn đề rất đơn giản như chống lại chuyển giá của các doanh nghiệp nước ngoài, thì mình đều có những tổ công tác đánh giá trên cái nhìn toàn cầu là tại sao lại như vậy? Ta có thể biến khó khăn thành cơ hội như thế nào ở đất nước mình?

Những điều này tôi nghĩ chúng ta phải nghiên cứu thấu đáo, trên tầm nhìn chiến lược, với năng lực học hỏi rất cao, mà cái cốt lõi là phải thu hút được nhân tài ở khắp nơi.

Tôi rất cảm kích trong đợt lễ tang của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi thấy đây là một cuộc biểu dương lực lượng của vũ khí chiến lược Việt Nam, đó là tinh thần dân tộc người Việt Nam rất lớn. Đây chỉ là sự thể hiện một phần, một cuộc diễu binh lớn, một sự thể hiện để chứng mình rằng nếu chúng ta không xứng đáng với khát vọng lớn của dân tộc, chúng ta sẽ thất bại.

Đó là cái giá rất đắt, khi nhiều thế hệ phải hy sinh mà không được đền đáp. Đó là điều chúng ta phải cùng nhau suy nghĩ.

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

Giật mình với thu nhập của người Việt Nam so với khu vực

Thứ Năm, 05/04/2012 22:40

Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.


Thu nhập trung bình của người Việt Nam vẫn còn khoảng cách rất xa so với các nước trong ASEAN và Trung Quốc, dù đã được cải thiện nhiều do đổi mới và mở cửa cách đây hơn một phần tư thế kỷ.
Một góc vùng quê Bạc Liêu
Trong khi đó, cơ hội để Việt Nam đuổi kịp Trung Quốc và các nền kinh tế ASEAN sẽ vẫn là viễn cảnh xa vời, nếu thiếu đi những động lực cải cách hơn nữa.
Đây là cảnh báo của một đề tài khoa học cấp nhà nước mang tên “Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020: từ nhận thức với hành động” do ĐH Kinh tế Quốc dân thực hiện. Báo cáo này, thực hiện theo yêu cầu của Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, trích dẫn số liệu về thu nhập của Việt Nam và các quốc gia khu vực do Quỹ Tiền tệ Quốc tế thực hiện năm 2010.
Theo đó, tính theo tỷ giá hối đoái, GDP đầu người của Việt Nam đã tăng từ mức 114 USD năm 1991 lên 1.061 USD năm 2010. Trong khi đó, GDP đầu người của Trung Quốc tăng từ 353 USD lên 3.915 USD trong khoảng thời gian trên.
Như vậy, thu nhập đầu người của Việt Nam tương đương 32% của Trung Quốc năm 1991 đã giảm xuống còn 27% năm 2010.
Mặt khác, tính theo sức mua tương đương (PPP), GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt 706 USD năm 1991 và lên tới 2.948 USD năm 2010. Trong khoảng thời gian đó, con số này của Trung Quốc tăng từ 888 USD lên 6.786 USD.
Như vậy, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam bằng 80% của Trung Quốc năm 1991 đã giảm xuống còn 43% năm 2010.
Bên cạnh đó, so với các quốc gia ASEAN khác, dù thu nhập của người Việt Nam đã dần được thu hẹp trong 20 năm qua, khoảng cách vẫn còn rất lớn ở vào thời điểm hiện tại.
Tiến sĩ Phạm Hồng Chương và các đồng sự ở ĐH Kinh tế Quốc dân cho biết, GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP chưa bằng 1/2 của Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/10 của Malaysia năm 1991.
Con số này đã vượt qua mức 3/4, 1/3 và 1/5 của các nước trên sau gần 20 năm.

Tóm lại, quy mô GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2010 đạt 1.061 USD tính theo tỷ giá hối đoái, và 2.948 USD theo PPP.
Tiến sĩ Phạm Hồng Chương nhận xét: “Đây là những chỉ số còn thấp xa so với mức bình quân chung của khu vực, của châu Á và thế giới”. Ông nhận xét, sau hơn một phần tư thế kỷ đổi mới và mở của, Việt Nam đã chuyển từ nhóm nước có thu nhập thấp sang nhóm thu nhập trung bình, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới.
Tuy nhiên, theo ông Chương, xét về nhiều mặt, động thái tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chưa thể hiện rõ quyết tâm và khả năng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu phát triển. Trong khi đó, trong một vài năm gần đây, nền kinh tế còn bộc lộ nhiều rủi ro tiềm ẩn về tính bền vững của quá trình tăng trưởng.
Báo cáo của ĐH Kinh tế Quốc dân chỉ ra thêm về thực trạng thất nghiệp ở mức 4,6% ở thành thị và 20% lao động ở nông thôn chưa được sử dụng; báo cáo nhận xét: “Như vậy, tỷ lệ trên tương đương với trên 10 triệu lao động thất nghiệp hoàn toàn ở Việt Nam”.
Thu nhập của người Việt Nam bị bỏ lại quá xa bởi các nước trong khu vực không phải là vấn đề mới.
Theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.

Báo cáo này căn cứ vào tốc độ tăng trưởng thu nhập trên đầu người tính theo giá cố định trong giai đoạn 2001 – 2007 của các quốc gia và kết luận “thực tế là Việt Nam sẽ phải rất lâu mới theo kịp được”.
Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

TPP Từ Góc Nhìn Của Alan

28 July 2013

Bất hạnh giúp ta thử thách tình bạn và nhận diện kẻ thù (Misfortune tests friends and detects enemies) Proverb
Trong những buổi nói chuyện của tôi gần đây, câu hỏi “hot” nhất của mọi doanh nhân từ Việt, ASEAN…đến Mỹ và Trung Quốc…là chuyện gia nhập của Việt Nam vào Hiệp Ước Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) với 10 quốc gia và 2 đại cường kinh tế, Mỹ Nhật. GDP của các hội viên TPP chiếm đến 40% GDP toàn cầu. Nhiều chuyên gia cho rằng TPP là một sách lược của Mỹ để chống sự bành trướng kinh tế của Trung Quốc.
Căn bản của quyền lợi
Trước khi đi sâu về phân tích, tôi xin nói rõ là tôi không có một thông tin nào ngoài những tin tức bình luận trên các mạng truyền thông. Và tôi cũng không thể bàn sâu vào góc cạnh chính trị của sự kiện quan trọng này vì lý do đơn giản là “pháp luật” của Việt Nam không cho phép.
Trước hết, theo kinh nghiệm làm ăn và các cuộc thương thuyết trong lịch sử, hay chỉ đơn giản giữa 2 người “dân đen”, bất cứ một giao dịch thành công nào cũng đòi hỏi sự thỏa mãn tối thiểu giữa hai bện hay nhiều bên. Thuận mua vừa bán. Sự đổi chác về quyền hay lợi đều dựa trên căn bản: tôi được gì và mất gì trong giao dịch này? Dù có thể một bên thiếu xuy sét và hoang ưởng trong kỳ vọng (gọi là ngu xuẩn) nhưng vào thời điểm giao dịch, họ đều thương lượng gay gắt để đạt được điều mình muốn.
Do đó, muốn hiểu rõ hơn về sự gia nhập của Viêt Nam vào TPP, ta phải trở lại vấn đề căn bản: Việt Nam muốn gì và Mỹ muốn gì? Dĩ nhiên 10 nước còn lại cũng có những lợi ích quốc gia riêng của họ, nhưng với sự chi phối và với vai trò đầu đàn, Mỹ có thể “thuyết phục” họ khá dễ dàng.
Một sinh viên trẻ cũng có thể đọc báo để thấyViệt Nam muốn gì từ TPP:  thị trường béo bở và rông mở của 2 quốc gia Mỹ Nhật.  Hiện nay, Viêt Nam đang xuất khẩu hơn 20 tỷ USD qua thị trường Mỹ và 9 tỷ USD qua thị trường Nhật (khoảng 25% của GDP). Xuất siêu từ Mỹ lên đến 15 tỷ USD mỗi năm. Nếu được hưởng hàng rào thuế quan ưu đãi dành cho hội viên (gần bằng 0% cho phần lớn mặt hàng), lượng xuất khẩu Việt Nam qua TPP sẽ tăng gấp 2 lần, chỉ cần nhờ vào lợi thế cạnh tranh duy nhất này.
Những suy đoán sai lầm
Nhiều nhà phân tích cho rằng Việt Nam cũng muốn tìm các đồng minh chiến lược mới, nhất là Mỹ, để hóa giải ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc về chánh trị và quân sự tại Biển Đông và sự áp đặt về cơ chế. Tôi không tin điều này. Việt Nam đã liên tục khẳng định “16 chữ vàng và 6 cái tốt” trong 80 năm lịch sử và gần đây nhất là vào 10 văn kiện vừa ký kết trong tháng 6 năm nay.
Trái với những suy đoán trước đây, tôi cho rằng thực sự Trung Quốc đang đứng sau và khuyến khích Việt Nam gia nhập TPP để họ có thể hưởng lợi gián tiếp từ khía cạnh kinh tế (sau khi đã nắm kỹ các yếu tô khác về đồng minh Việt).
Ba năm trước, tôi có tham dự nhiều buổi “trình diễn” (road show) tại Trung Quốc do các quỹ tư nhân ASEAN tìm nhà đầu tư vào Việt Nam. Phần lớn “không quan tâm” là câu trả lời. Trung Quốc đang xuất khẩu qua Việt Nam 29 tỷ USD mỗi năm (nhập siêu là 18 tỷ USD) chiếm đến 25% của GDP Việt mà không tốn sức lắm. Nhận xét chung của các doanh nhân Trung Quốc là việc đầu tư vào Việt Nam là một việc làm “thừa thãi”.
Tuy nhiên, 6 tháng vừa qua, tôi nhận liên tiếp những cuộc gọi và viếng thăm của doanh nhân Trung Quốc. Họ bắt đầu quan tâm đến việc thiết lập nhà máy tại Việt Nam để hưởng lợi từ TPP. Chẳng hạn hàng may mặc xuất từ Trung Quốc vào Mỹ phải chịu thuế hải quan là 20% đến 40%. Với TPP, nhà máy tại Việt Nam sẽ thâu lợi ngay khoản chi phí này và các quyền lợi khác mà Việt Nam thường ưu đãi cho các dự án FDI. Tôi nghĩ chánh phủ Trung Quốc rất thú vị nếu dùng được bàn đạp Việt trong trận chiến kinh tế với Mỹ. Với hơn 80% sản phẩm Việt xuất khẩu phải tùy thuộc vào linh kiện và nguyên liệu từ Trung Quốc, mối lợi cho Trung Quốc sẽ tăng lũy tiến với TPP. Có thể nói, Trung Quốc sẽ hưởng lợi từ TPP nhiều hơn là Việt Nam.
Nhìn từ phía Mỹ
Dĩ nhiên, các chuyên gia Mỹ không ngu gì mà không biết những gì Trung Quốc và Việt Nam sẽ hưởng từ TPP. Tuy nhiên, cái gót chân Achilles của nước Mỹ luôn luôn là các chính trị gia và những nhóm lợi ích quyền lực, nhất là nhóm tài phiệt Mỹ (gốc Do Thái).
Trước hết, nhóm tư bản tài chánh của Mỹ không bao giờ quan tâm đến quyền lợi quốc gia. Với họ, toàn cầu hóa và lợi nhuận tối đa là mục tiêu chính. Những yếu tố khác như chánh trị hay quân sự là chuyện “người khác”. Vì sự hấp dẫn của thị trường 1.3 tỷ dân mà họ đã lao đầu không suy nghĩ vào Trung Quốc. Cho đến nay, qua các nguồn tài trợ, họ đã giúp Trung Quốc cất cánh và trở thành một đối thủ đáng quan ngại của Mỹ. Vì số lượng khủng của petrodollars (tiền thâu nhập từ dầu khí) mà giới tài chánh Wall Street ủng hộ các vương quốc và chế độ độc tài (kể cả việc đẩy Mỹ vào trận chiến Iraq). TPP là một miếng mồi ngon cho các tập đoàn này.
Ngay sau đó là phe chính trị “tả phái” của Mỹ, hiện bao gồm những trí thức tháp ngà và các nhà hoạt động xã hội trẻ (hơi dư thừa lý tưởng). Phe tả luôn thích ra tay “giúp” người nghèo hay nước nghèo qua OPM (tiền người khác). Với lá phiếu của thành phần “hưởng đủ mọi phúc lợi của xã hội mà không đóng thuế” đang chiếm đến 53% số cử tri, phe tả đang nằm trong thời kỳ vàng son của đủ mọi chương trình OPM. Lãnh đạo số 1 và tiêu biểu cho phe tả là ngài Barrack Obama.
Có thể nói Obama là một chuyên gia cao cấp về OPM. Sinh ra trong một gia đình hưởng nhiều phúc lợi (welfare benefits) vì cha mẹ nghèo, Obama đã hiểu ngay từ thời thơ ấu về sự hấp dẫn của OPM. Sau khi tốt nghiệp luật sư, chàng Obama chọn làm một nhà tổ chức cộng đồng (community organizer) hoàn toàn sống nhờ vào các chương trình xã hội từ tiền ngân sách của các chánh phủ liên bang và địa phương. Có thể nói, Obama và phe nhóm đã dùng OPM để leo lên tuyệt đỉnh của danh vọng.
Việc Obama tung chút tiền vào cá cược TPP cho Việt Nam cũng là một điều dễ hiểu. Các lãnh đạo Việt Nam đã thuyết phục Obama với ngôn ngữ OPM và chủ nghĩa xã hội mà Obama rất am hiểu. Thực ra, nếu nói về OPM, quan chức Việt Nam phải là sư phụ của Obama. Thay vì qua Việt Nam thăm viếng, tôi nghe đồn là Obama định dự một khóa tu nghiệp dài hạn về OPM tại Hà Nội sau khi thôi làm Tổng Thống Mỹ.
Cuối cùng, giới quân sự của Mỹ luôn luôn “yêu” chiến tranh, nơi sự nghiệp và quyền lợi của họ gắn liền vào cái gọi là “an ninh quốc gia” và “cảnh sát quốc tế”. Dù họ biết thừa về khả năng rủi ro khi đổ quân vào các xứ lạ, họ cũng biết là không có một cuộc chiến nào mà không đem thêm quyền lực và tiền bạc cho phe nhóm (dĩ nhiên cũng là OPM). Mộng ước biến Việt Nam thành một đồng minh chiến lược có lẽ sẽ tan theo mây khói khi Mỹ thực sự đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông; nhưng đối với những phí tổn đang phung phí toàn cầu, thì cái giá phải trả cho tư duy sai lầm này của phe quân sự Mỹ sẽ rất nhỏ và có thể xếp vào loại “thử và sai” (trial and error).
Rào cản còn lại
Ba nhóm trên đã bắt tay để bỏ qua quyền lợi kinh tế của quốc gia để theo đuổi một chánh sách nhiều “hoang tưởng”, nhất là khi nghĩ rằng Việt Nam sẽ thành một con cờ để “cân bằng” Trung Quốc trong địa chánh trị toàn cầu.
Nhiều người cho rằng vấn đề nhân quyền và dân chủ sẽ là một rào cản ngăn Việt Nam gia nhập TPP. Phe nhóm Obama sẽ cố “vận động dư luận” để thỏa mãn phần nào đòi hỏi của phe hữu và khối cử tri Việt Kiều về vấn đề này. Nhưng trong cốt lũy của các nhóm lợi ích này, “nhân quyền hay dân chủ” không bao giờ là mục tiêu, mà chỉ là “miệng lưỡi đầu môi” (lip service). Trong khi đó, phần lớn cử tri Mỹ khác sẽ không quan tâm vì đây là chuyện quá nhỏ trong đời sống bình nhật của người dân Mỹ. Nếu có cuộc khảo sát về TPP, tôi chắc là 90% dân Mỹ sẽ nghĩ nó là chữ viết tắt cho một hiệp hội quần vợt mới của Mỹ.
Do đó, trong bản thông cáo chung của ông Obama và ông Sang, hai bên cam kết là sẽ hoàn tất việc Việt Nam gia nhập TPP vào cuối năm. Nếu đúng vậy, đây sẽ là thắng lợi lớn lao cho quan chức Việt Nam, Trung Quốc và vài ba nhóm lợi ích của Mỹ.
May vẫn hơn hay
Tuy nhiên, nó cũng sẽ giúp sự hồi phục của nền kinh tế Việt sớm hơn dự đoán nhờ sự gia tăng về xuất khẩu và đầu tư FDI từ nhiều nơi, nhất là Trung Quốc. Trong tình thế gần như tuyệt vọng của nền kinh tế Việt, TPP sẽ là một phép mầu và ân sủng từ Thượng Đế. Lá số tử vi của quan chức Việt và Tàu quả thật là đầy sao may mắn.
Về phía Mỹ, sự thất vọng gần như chắc chắn trong 5 năm sắp tới khi các nhà tư bản Mỹ nhận ra là những số liệu thống kê và báo cáo tài chánh của các đối tác Việt Nam còn tệ hơn tiểu thuyết; và các nhà chính trị quân sự thấm hiểu lời khuyên về việc “đừng nghe những gì họ nói”…
Kẻ cắp khi gặp bà già …thì cũng phải bó tay.
Alan Phan

Hoa Kỳ Dung Tam Tế

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt 130729
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"
Đừng Bị Ù Tai Vì Nhiễu Âm - Nên Nhìn Vào Thực Tế Kinh Tế Quốc Tế.... 

* Hoa Kỳ vẫn phục hồi trước các nước * 
Từ vài tháng qua, người ta bắt được nhiều tín hiệu trái ngược về tình hình kinh tế toàn cầu sau năm năm chấn động. 
Trong các nền kinh tế công nghiệp hoá, Hoa Kỳ đã phục hồi nhanh nhất. Âu Châu chưa ra khỏi cơn khủng hoảng và Nhật Bản mới bắt đầu áp dụng những giải pháp cải tổ táo bạo để đẩy lui làn sóng suy trầm. Ngoài thế giới công nghiệp hóa, nền kinh tế có sản lượng thứ nhì của thế giới là Trung Quốc cũng khởi sự cải cách và có đà tăng trưởng thấp hơn. Rốt cuộc, kịch bản "Tầu vượt Mỹ" chỉ là ảo vọng....
Giữa khung cảnh đó, vụ thành phố Detroit bị vỡ nợ vì thu vào không đủ cho gánh nợ hơn 18 tỷ, trong đó phân nửa là nghĩa vụ về hưu bổng và y tế phải chi ra mà chẳng có nguồn thu. Đã vậy, hôm 24, Tổng thống Barack Obama lại mở chiến dịch vận động dư luận cấp cứu kinh tế với lối giải thích kỳ lạ về nguyên do của Tổng suy trầm và hậu quả cho giới trung lưu.
Tức là kinh tế Hoa Kỳ chưa phục hồi?
Hôm Thứ Hai 29, đến lượt một chuyên gia cao cấp của Bắc Kinh đả kích lập luận bi quan về triển vọng kinh tế của Trung Quốc. Justin Lin (Lâm Nghị Phu) là người có thẩm quyền: từ Đài Loan đào thoát qua Hoa lục năm 1929, ông tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Chicago để là viên chức ngân hàng Trung Quốc, rồi qua làm Phó Chủ tịch và Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới từ 2008 đến năm ngoái, trước khi về làm cố vấn kinh tế cho lãnh đạo Bắc Kinh.
Nghĩa là kinh tế Trung Quốc chưa đến nỗi nào?
Bài viết này không đề cập đến chuyện "kinh tế cũng là chính trị" – xin để tuần sau! – mà cố trình bày những nguyên nhân sâu xa hơn, khiến Hoa Kỳ đã phục hồi sớm nhất trong các khối kinh tế lớn của thế giới. May ra, ta khỏi bị hiểu lầm về những lý luận hàm hồ của các chính khách.
***
Trước hết, thế giới trôi vào khủng hoảng tài chánh rồi suy trầm từ năm 2008 vì lý do chính là vay mượn quá nhiều sau khi tiêu thụ quá mức tiết kiệm. Nói đến điều ấy, ai cũng có thể nghĩ Hoa Kỳ là thủ phạm vì tiêu thụ chiếm đến 72% của Tổng sản lượng, trong khi các nước đang phát triển, kể cả Trung Quốc, đã có mức tiết kiệm rất cao và nhờ vậy mà có tiền cho Mỹ vay để duy trì một thất quân bình quá lớn và quá lâu, đến vài chục năm.
Trong hoàn cảnh đó mà bảo Hoa Kỳ hồi phục sớm nhất là một nghịch lý nhuốm mùi "phục Mỹ"....
Thật ra, trong sự vận hành của kinh tế toàn cầu với tác động tương hằng từ xứ này qua xứ khác, lời phê phán đạo đức chỉ là trò chính trị. Thí dụ như dân Đức hy sinh tiết kiệm cho dân Hy Lạp tiêu xài quá mức nên mới gây khủng hoảng trong khối Euro. Hoặc Bắc Kinh thắt lưng buộc bụng người dân để lấy dự trữ ngoại tệ rất cao cho Mỹ vay nhằm gây sức ép với Hoa Kỳ... Truyện ngụ ngôn con ve sầu ca hát và tiêu hoang nên mắc nợ con kiến chắt bóp tiết kiệm chỉ là... truyện. Sự thật lại đơn giản như một bản kế toán. 
Xin lỗi quý độc giả về chuyện khó hiểu này!
Quốc gia nào cũng có hai sinh hoạt là sản xuất và tiêu thụ. Khi sản xuất nhiều hơn tiêu thụ thì được một khoản dư dôi là tiết kiệm. Nếu tiết kiệm nhiều hơn số đầu tư thì được thặng dư trong cán cân chi phó hay trương mục vãng lai. Số thặng dư phải được đầu tư ra ngoài, tức là xuất cảng tiền tiết kiệm, hay xuất cảng tư bản. Ngược lại, nếu tiết kiệm nội địa ít hơn đầu tư thì phải nhập cảng tiết kiệm, hay tiếp nhận đầu tư của nước ngoài. Theo định nghĩa kế toán, trương mục vãng lai và trương mục đầu tư phải cân bằng, với kết số bằng số không. Thâm hụt trương mục vãng lai phải được bù đắp bằng tư bản nhập nội.
Từ khái niệm trừu tượng đó, xin nhớ thêm rằng xuất cảng tư bản có nghĩa là nhập cảng số cầu từ nước khác. Vì vậy, khối tiết kiệm và tiêu thụ mới ảnh hưởng đến ngoại thương, xuất nhập cảng. Chính sách ngoại thương là kết quả của tình trạng chi thu, tiêu thụ và tiết kiệm bên trong. Và các nước muốn can thiệp vào ngoại thương để nâng xuất cảng và giảm nhập cảng thì có thể nghĩ đến giải pháp hối đoái, như phá giá để dễ hàng bán ra với giá rẻ hơn và giảm số nhập cảng vì giá đắt hơn. Những biện pháp can thiệp này tác động ngược vào số tiêu thụ và tiết kiệm nội địa....
Sau mấy trăm chữ về một chuyện khó hiểu, xin trở lại vấn đề chính là sức tiết kiệm của từng nước. Dĩ nhiên là nó tùy vào nếp văn hóa, tâm lý bi quan hay lạc quan về tương lai, mà cũng lệ thuộc vào chánh sách kinh tế hay những ràng buộc về tổ chức, với chỉ dấu tổng hợp là mức tiêu thụ so với Tổng sản lượng.
Mức trung bình của nhiều nền kinh tế lớn trên toàn cầu là ở trên 50% Tổng sản lượng GDP. Hoa Kỳ có số tiêu thụ quá cao (tiết kiệm quá thấp), bằng 70-72%. Trung Quốc thì ngược lại, với số tiêu thụ chỉ bằng 35-37% Tổng sản lượng.
Yếu tố quan trọng nhất là các khối kinh tế này không biệt lập mà tác động vào nhau. Việc Mỹ phải nâng mức tiết kiệm (giảm mức tiêu thụ) lại liên hệ với việc Trung Quốc phải tăng mức tiêu thụ. Sợi dây chuyển lực giữa hai nhu cầu này là ngoại thương, và gián tiếp hơn, là hối suất đồng bạc.
Nhưng việc điều chỉnh còn tùy thuộc vào tình trạng khép mở, tự do nhiều hay ít, của hai nước.
Hoa Kỳ trôi vào khủng hoảng vì nợ cao, tiết kiệm thấp do nhiều yếu tố tâm lý (lạc quan) hay chính trị, thậm chí sự hao tốn cho chiến tranh. Yếu tố quan trọng là vì có nền kinh tế mở nhất, với cơ chế linh động nhất: thế giới càng tiết kiệm nhiều dân Mỹ càng tiêu thụ mạnh và tiết kiệm của thiên hạ tràn vào Mỹ càng tạo ra thịnh vượng và hiệu ứng là tâm lý phồn vinh... giả tạo.
Năm năm qua, Hoa Kỳ đụng đáy sớm nhất, dân chúng bóp bụng trả nợ, doanh nghiệp gia tăng tiết kiệm và đang xây dựng lại một nền móng quân bình hơn. Mức độ tự do của cơ chế khiến nuớc Mỹ ứng phó nhanh nhất. Nhưng trình độ dân chủ của chính trị cũng khiến các chính trị gia phát biểu lung tung để kiếm phiếu và gây ra ấn tượng sa sút của Hoa Kỳ.
Ngược lại, Trung Quốc trì hoãn nhu cầu cải cách mức tiêu thụ quá thấp được thấy từ 10 năm trước, tới khi Tổng suy trầm xuất hiện năm 2008 lại còn thổi lên một núi nợ khổng lồ. Nếu trong 10 năm tới, xứ này cần nâng mức tiêu thụ từ 35% lên 50% để có cơ cấu quân bình hơn thì vừa phải đạt mức tăng trưởng hơn 10% một năm vừa tái phối trí tài nguyên từ khu vực nhà nước qua các hộ gia đình. Là điều bất khả về chính trị vì thế lực của đảng viên và cán bộ nhà nước. Do tình trạng bất khả này, đà tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chỉ còn ở khoảng 3-4% một năm.
Vì vậy 10 năm tới là 10 năm thoái trào của Trung Quốc và sự tái xuất hiện của siêu cường Hoa Kỳ mà nhiều người cứ tiên đoán là đang đi vào tiêu vong!
_____________________
Chỉ có tại Hoa Kỳ
Một học khu tại tiểu bang Indiana cho biết là năm ngoái đã tốn 300 ngàn đô la thực phẩm mà làm học sinh bị đói. Chỉ vì học khu Carmel Clay áp dụng sáng kiến của Đệ nhất Phu nhân Michelle Obama là cung cấp bữa trưa lành mạnh hơn cho học sinh, họ tốn tiền mua rau cỏ trái cây mà chẳng ai muốn ăn nên cuối cùng thì vào thùng rác. Bà Giám đốc chương trình thực phẩm là Linda Wireman còn cho biết học sinh than phiền rằng chúng về nhà với bụng rỗng. Chủ quan duy ý chí của nhà nước để đẹp lòng lãnh đạo?

Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2013

Tình hình kinh tế Việt Nam đang như thế nào?



Một câu hỏi thường trực trong tâm trí nhiều người là sức khỏe kinh tế thực sự đang ra sao mà thấy sao có nhiều dấu hiệu trái ngược nhau quá. Nhìn quanh, ai cũng nói chuyện doanh nghiệp tư nhân rơi rụng đến con số hàng chục ngàn, thậm chí cả trăm ngàn, ai cũng có quen biết với một người vừa mới thất nghiệp và ai cũng thấy làm ăn ngày càng khó khăn, thậm chí đến chỗ bế tắc. Các đại biểu Quốc hội than nghe còn bi đát hơn như “Tình hình kinh tế gay go lắm rồi”.
Nhưng lùi lại một chút, nhìn vào các chỉ số quan trọng thì thấy tình hình đang cải thiện: lạm phát được kềm chế, tỷ giá ổn định, cán cân thương mại tương đối cân bằng, xuất khẩu tăng trưởng tốt, và đặc biệt thị trường chứng khoán đang ấm dần lên.
Tìm đâu ra một góc nhìn khách quan, có thể tin cậy được!
Trong một tài liệu bằng tiếng Anh tôi được đọc qua, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright kết hợp với Trung tâm Ash thuộc trường Harvard Kennedy School lại một lần nữa đưa ra những nhận định sắc bén, phân tích thẳng những vấn đề của nền kinh tế.
Trước hết bản báo cáo cho rằng Việt Nam vừa thoái khỏi một tình hình nguy cấp, nền kinh tế suýt đổ vỡ cách đây khoảng 12 tháng. Nhưng nền kinh tế không phải đang phục hồi mà đúng hơn là rơi vào tình trạng trì trệ kéo dài. Muốn thoái khỏi tình trạng này, Việt Nam phải dọn dẹp hệ thống ngân hàng, tiếp tục cải tổ khối doanh nghiệp nhà nước và hồi sức cho khu vực tư nhân trước khi thành tựu của 14 năm qua bị xóa sạch.
Tuy nhiên dường như không ai muốn hành động gì, không muốn thay đổi hiện trạng vì 5 nhầm tưởng (myths) khá phổ biến trong giới lãnh đạo.
-          Nhầm rằng: Khủng hoảng đã qua, tình hình đang dần cải thiện (nên không cần làm gì cả);
-          Nhầm rằng: Giải quyết nợ xấu của hệ thống ngân hàng không cần phải dùng đến ngân sách Chính phủ (nên vốn VAMC chỉ có 500 tỷ đồng);
-          Nhầm rằng: Các tập đoàn, tổng công ty có thể tự tái cấu trúc bằng các kế hoạch do chính họ soạn thảo (theo kiểu tự mình nắm đầu tóc kéo lên khỏi bùn);
-          Nhầm rằng: Có thể phục hồi khu vực tư nhân bằng các biện pháp tài khóa (giảm thuế) và tiền tệ (giảm lãi suất) (trong khi thực tế các thành tựu của Luật Doanh nghiệp đang gần như bị xóa sổ dần);
-          Nhầm rằng: Khu vực nông nghiệp có thể tiếp tục là tấm đệm, giảm sốc cho nền kinh tế, thu nhận hết lượng lao động công nghiệp bị mất việc (thực tế nền nông nghiệp rất dễ bị tổn thương, môi trường đang ô nhiễm, sức nông dân đã cạn).
Khác với lần khủng hoảng cuối thập niên 1990, lúc đó Việt Nam đã đưa ra những cải cách mạnh mẽ, nhất là việc cho ra đời Luật Doanh nghiệp năm 2000 nên kinh tế phục hồi nhanh chóng và bền vững trong nhiều năm liền, lần này chính sách chỉ thấy xoay quanh hai chuyện “nới lỏng” và “thắt chặt” nên nền kinh tế cứ giật cục, tăng trưởng cao thì lạm phát nhiều, kềm chế lạm phát thì kinh tế trì trệ. Ba chương trình cải cách lớn về doanh nghiệp nhà nước, hệ thống ngân hàng và đầu tư công hầu như chưa triển khai được gì cụ thể. Nợ xấu mà giải quyết theo cách như hiện nay chỉ là tạm thời khoanh nó lại, chuyển sang tương lai.
Nếu cứ để yên như thế này thì nền kinh tế sẽ chỉ còn tăng trưởng khoảng 3%, khó khăn kéo dài, doanh nghiệp tư nhân tiếp tục phá sản, thất nghiệp tiếp tục lan rộng.
Riêng tôi chỉ bổ sung thêm một ý: Nền kinh tế Việt Nam trước nay phát triển chủ yếu nhờ yếu tố vốn. Nay tín dụng không tăng thì làm sao có tăng trưởng? Tín dụng chắc chắn sẽ không tăng mạnh vì ngân hàng đang lo dọn dẹp lại bảng cân đối tài chính cho lành mạnh, doanh nghiệp cũng không còn sử dụng đòn bẩy nợ mạnh mẽ như trước, sức lực cũng không còn để đi vay chịu rủi ro. Nợ xấu mà giải quyết theo cách kéo dài trong năm năm thì ngân hàng càng không có sức lực hay động lực đâu để cho vay. Trong bối cảnh đó, như một quy luật bù trừ về khoản trống vốn, nhiều lãnh vực quan trọng của nền kinh tế tiếp tục rơi vào tay đầu tư nước ngoài, kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp.

Trở lại chuyện GDP và GNI
Nếu tính cho đúng thì tổng thu nhập quốc dân của Việt Nam năm ngoái bị giảm đi 7,5 tỷ đô-la; thu nhập đầu người của dân Việt Nam giảm 196 đô-la. Số giảm này chạy đi đâu, vào tay ai và vì sao có chuyện kỳ lạ này?
Đầu tư nước ngoài (cả trực tiếp lẫn gián tiếp) ngày càng chiếm một tỷ lệ quan trọng trong nền kinh tế. Chỉ cần quan sát trên thị trường cũng có thể thấy từ những sản phẩm đơn giản như bột giặt, kem đánh răng đến các sản phẩm lâu bền như TV, tủ lạnh rồi những sản phẩm đắt tiền như máy tính, xe hơi… toàn là hàng của các doanh nghiệp FDI sản xuất hay lắp ráp. Đầu tư nước ngoài hiện đang lấn sang những lãnh vực trước đây là của doanh nghiệp trong nước như nhà hàng và nhiều loại dịch vụ, mua nông sản như cà phê, sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc, bán lẻ. Lần lượt các tên tuổi trong nước gầy dựng từ thời mở cửa đến nay đã sang tay cho nhà đầu tư nước ngoài.
Có cách nào để đo lường sự thay đổi này?
Có lẽ mọi người đều biết ngoài GDP ra, người ta còn tính GNI để biết chính xác hơn công dân một nước làm ra bao nhiêu để loại trừ công dân nước ngoài đang làm ăn trên nước họ. Trong khi GDP (tổng sản phẩm quốc nội) tính theo địa bàn lãnh thổ thì GNI (tổng thu nhập quốc dân) tính theo công dân hay pháp nhân của nước đó, bất kể họ đang ở đâu. Bởi vậy một nhà máy của người Nhật đầu tư ở Việt Nam thì lợi nhuận ròng của họ được tính vào GNI của Nhật chứ không phải của Việt Nam. Nói cách khác, GNI bằng GDP + thu nhập sở hữu – chi trả sở hữu.
Số liệu của World Bank (GDP và GNI theo giá thực tế) cho thấy chênh lệch giữa GDP và GNI của Việt Nam ngày càng lớn (xem bảng).
                   2003   2004   2005   2006   2007   2008   2009   2010   2011   2012
GDP (tỷ USD)   39,5   45,4    52,9    60,9     71       91       97,2   106,4   123,7  141,7
GNI (tỷ USD)   38,9    44,6    51,9   59,5      68,8    88,1    92,6   102     117,8   134,2
Chênh lệch    0,6      0,8      1        1,4        2,2      2,9     4,6      4,4     5,9      7,5
(tỷ USD)

GDP đầu người        492    558    642    731    843    1.070  1.130  1.224  1.408  1.596
GNI đầu người         480    550    630    700    790    920    1.030  1.160   1.270  1.400
Chênh lệch                   12          8        12       31      53      150          100        64        138        196
(USD)
(Nguồn: World DataBank)
Chênh lệch năm ngoái lên đến 7,5 tỷ đô-la là rất lớn so với cách đây 10 năm, chênh lệch chỉ 0,6 tỷ đô-la mặc dù lúc đó Việt Nam đã mở cửa cho đầu tư nước ngoài đã hơn 15 năm. Còn thu nhập đầu người chênh nhau gần 200 đô-la, cũng là con số đáng lo khi vào năm 2003, mức cách biệt chỉ là 12 đô-la.  
Đáng chú ý hơn, nhiều dữ kiện cho thấy mức chênh lệch này ngày sẽ càng lớn hơn trong những năm sắp tới. Đó là hiện nay đầu tư nước ngoài chưa đưa thu nhập ròng về nước nhiều, họ dùng nó để mở rộng đầu tư. Thứ hai, khi việc trả lãi nợ nước ngoài ngày càng nhiều thì tương lai GNI lại càng nhỏ hơn GDP bởi trả nợ nước ngoài thì GDP vẫn không thay đổi trong khi sẽ làm GNI giảm đi tương ứng. Thứ ba, nếu các doanh nghiệp trong nước bán một phần tài sản của mình cho nhà đầu tư nước ngoài, GDP vẫn y nguyên nhưng GNI bị khấu trừ. Một bài viết trên TBKTSG của Bùi Trinh vào năm 2010 từng nhận định: “Nếu năm 2000 phía Việt Nam phải chi trả cho nước ngoài 6.300 tỉ đồng thì đến năm 2009 phần phải chi trả sở hữu cho nước ngoài lên đến gần 91.000 tỉ đồng, chủ yếu là lãi tiền vay và doanh nghiệp FDI chuyển lợi nhuận về nước”.
Người bi quan có thể cho rằng nếu xu hướng này tiếp diễn, chẳng bao lâu nữa, GDP Việt Nam vẫn tăng nhưng thu nhập đầu người Việt Nam chẳng tăng thêm bao nhiêu và cuối cùng thu nhập ấy dồn về cho người nước ngoài cả. Cũng trong bài báo của Bùi Trinh đã trích dẫn ở trên, tác giả cho biết: “Tốc độ chi trả sở hữu ra nước ngoài tăng bình quân hàng năm khoảng 34% (còn GDP tăng bình quân 7,3%)”, tức tiền trả cho nhà đầu tư nước ngoài tăng nhanh hơn tốc độ tăng GDP nhiều lần, dẫn đến chênh lệch giữa GDP và GNI ngày càng lớn là chuyện không thể tránh khỏi.
Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế đang lâm vào cảnh bế tắc, nền kinh tế dân doanh gây dựng từ sau đổi mới đến giờ đã cạn sức, co cụm và phòng thủ, để tạo công ăn việc làm, để xã hội không rơi vào chỗ xáo động, càng khó khăn hơn nữa, việc nhà đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế vẫn là xu hướng tích cực hơn là đáng lo ngại. Nhưng đây là xu hướng không mong muốn về lâu về dài và mọi nỗ lực phục hồi nền kinh tế trong dài hạn phải tính đến chuyện nâng sức cho khu vực kinh tế trong nước để con số tăng trưởng GDP thường được nhắc đến là có ý nghĩa thật sự cho người dân, chứ không phài chủ yếu cho nhà đầu tư nước ngoài. Nhìn vào số liệu trên cũng có thể thấy tăng trưởng GDP thường cao hơn tăng trưởng GNI hay nói cách khác, nhìn vào GDP không thôi thì sẽ ảo tưởng hơi nhiều về sự thật sức mạnh của nội lực kinh tế trong nước. Điều cuối cùng, chênh lệch giữa GNI và GDP càng lớn thể hiện mức độ dễ tổn thương của kinh tế Việt Nam với những cú sốc của dòng vốn ngoại.

Chỉ còn biết hy vọng đến lúc nền kinh tế phục hồi, biết đâu sẽ có làn sóng mua lại sản nghiệp từ tay người nước ngoài. Và hiện nay cũng đã có nhiều doanh nghiệp tìm đường làm ăn ở bên ngoài. Biết đâu tương lai họ sẽ góp phần vào GNI của Việt Nam một cách đáng kể.

Cập nhật: Anh Vũ Quang Việt có góp ý: GNI và GDP đều không dựa vào khái niệm công dân (citizens) mà chỉ dựa vào khái niệm thường trú - residents (tức là ở một địa bàn kinh tế hơn 1 năm). Mặc dù trong trường hợp Việt Nam 99,9% residents là citizens nhưng phải dùng từ chính xác để khỏi hiểu sai. Cám ơn anh Việt.

 http://nguyenvanphu.blogspot.com/2013/07/tro-lai-chuyen-gdp-va-gni.html



Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2013

WB, IMF, IFC và UN

Cách Nhà Trắng chỉ một vài phố (19, 18), dọc đại lộ Pennsylvania có mấy tổ chức như IMF, WB, IFC, toàn giữ tiền của thế giới. Mấy ông bà lớn này hợp với nhau để giúp các nước nghèo và cả…nước giầu.
Theo tôn chỉ mục đích chính thức, Quỹ tiền tệ quốc tế ( International Monetary Fund - IMF) tế giám sát hệ thống tài chính toàn cầu bằng theo dõi tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán, cũng như hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ tài chính khi có yêu cầu.
Trong khi đó, Ngân hàng Thế giới (WB – World Bank) cung cấp những khoản vay nhằm thúc đẩy kinh tế cho các nước đang phát triển thông qua các chương trình vay vốn, với mục tiêu là giảm thiểu đói nghèo. Vốn vay của WB cấp cho chính phủ.
International Finance Corporation (IFC – Tổ chức Tài chính Quốc tế ) hoạt động na ná giống WB nhưng cấp vốn cho tư nhân.
Thế giới có 4 tổ chức lớn là UN, IMF, WB, IFC đều nằm ở Mỹ, 3 ông giữ tiền có trụ sở gần Nhà Trắng, UN ở New York. Chỉ có hai tổ chức nhỏ là UNESCO chẳng có quyền hành gì ngoại trừ mấy cái chứng chỉ di sản văn hóa, nằm bên Pháp. UNHCR cứu người ở Thụy sỹ.
Ông UN ít tiền nhất, dự án xón từng tý một, nhưng không phải trả lại. Ông WB, IFC thì hàng trăm triệu đô la, có vay có trả. Bà IMF thì kinh hơn, toàn chục tỷ đô la.
Thông thường ở đâu có đánh nhau thì có đổ nát. Khi hết tiếng súng, ông UN vào trước dọn dẹp, giúp vốn để dựng nhà cửa tạm thời. Vì thế dự án UN thường nhỏ. Gọi đó là vốn đi học lớp vỡ lòng.

Phố 19 cắt Pennsyvania có WB, IMF. Ảnh: HM
Phố 19 cắt Pennsyvania có WB, IMF. Ảnh: HM

Khi đã tạm ổn rồi thì ông WB đến chơi và hỏi, có muốn xóa nghèo không, đây có ít tiền cho vay dài hạn, đôi lúc là 40 năm, với lãi suất gần như bằng 0, gọi đó là vốn vay IDA. Nhà nghèo thấy nói thế thì làm gì chả vay. Dự án mấy chục triệu đô la đến hàng tỷ là thường.
Làm ăn được, thu nhập bình quân đầu người trên 1000$/năm, coi như tốt nghiệp tiểu học, ông WB lại hỏi, có vay tiếp nữa không, đây có “dzốn” IBRD nhưng lãi suất tới 4-5% năm cơ. Uh thì vay, sợ gì bố con thằng nào.
Việt Nam vay vốn của WB từ năm 1959 nhưng là ở…Sài Gòn. Năm 1995, sau khi Mỹ bỏ cấm vận, VN mới được hưởng vốn IDA của WB. Sau 15 năm thì VN đã đạt thu nhập bình quân trên 1000$/năm/người và được coi là tốt nghiệp cấp 1. Hiện đang phải vay vốn IBRD lãi cao hơn, nhưng dự án tính hàng tỷ đô la.
IFC  quan tâm đến mấy anh tư nhân, làm ăn giỏi, nhử chung vốn làm ăn. Khách sạn Sofitel ở Hà Nội là điển hình của IFC và tư nhân cùng hùn vốn, lời ăn lỗ chịu.
Khá lên nữa chẳng cần WB như Nhật, Anh, Mỹ mà hùn vốn cho các nước nghèo vay nặng lãi. Nhiều nước giầu chút nhưng làm ăn không thuận buồm xuôi gió, do chính sách vĩ mô có vấn đề, tự nhiên kinh tế khủng hoảng, vốn vay tới hạn phải trả lại không thể thực hiện được, đất nước đi vào…suy thoái theo cả hai nghĩa kinh tế và đạo đức. Để lâu là loạn.
Lúc đó chị IMF mới vào hỏi, liệu mà làm ăn, thay đổi chính sách đi, bà sẵn sàng cho mượn “rốn” để khỏi tụt váy. Nhưng phải cải tổ như các điểm sau đây: 1, 2, 3 …, gọi là cho vay có điều kiện. Đôi lúc IMF ép cả về mặt chính trị. Nhưng sắp sụp đổ rồi, nhiều nước phải ngậm đắng nuốt cay thôi. Indonesia, Brazil, Mexico… là những ví dụ sống động.
Tiền của các tổ chức này do các nước đóng góp, anh nào đóng nhiều thì hưởng lợi nhiều, có quyền nhiều. Mỹ đóng nhiều nhất nên ai định vay mà bị Hoa Kỳ phủ quyết là coi như toi. Không có UN, WB, IFC, IMF, khó mà đi lên bằng đôi chân của chính mình.
Sau chiến tranh, Nhật bị tàn phá nên vay rất nhiều vốn của WB để phát triển. Họ may mắn giầu lên, bây giờ lại gửi tiền vào WB nhờ cho vay để lấy lãi. Indonesia, Thái Lan, Philippines cũng vay nhưng chính phủ ăn cắp nhiều quá nên nay chưa giầu, đủ tiền như Nhật, cho vay kiểu WB hay IMF được. Trả nợ còn chưa xong mà.
Bác Trương Tấn Sang vào IMF chắc cũng có ý định nhờ giúp đỡ về kinh tế chăng, hay chỉ thăm cho biết thì chịu. IMF cũng có văn phòng ở Hà Nội.
Hôm nay không có tin gì cả. Vì Cua phải đi làm, thời gian đâu mà theo đoàn để chụp ảnh. Vả lại, như lúc đứng trước IMF, giơ máy chụp, anh bảo vệ người Việt bảo, đừng có chụp lung tung. Thôi, để mai ra Nhà Trắng xem có gì hay ;)
Sang đường về WB, gặp mấy chị latin, đứng tò mò nhìn đoàn xe sang trọng với cảnh sát rú còi dẫn đường, hỏi mình, ai đó. Chủ tịch Nguyễn Tấn Sang của VN đấy, Tổng Cua nói vẻ tự hào. Anh là người Việt à? Vâng. Sao không bắt tay ông ấy cái. Chịu thôi, sợ bị mắng. Ở nước tôi ấy à, dân sợ lãnh tụ một phép.
HM. 24-7-2013
Chiếc xe BJ 3247 chuyên chở nguyên thủ quốc gia. Ảnh: HM
Chiếc xe BJ 3247 chuyên chở nguyên thủ quốc gia. Ảnh: HM
Goodbye IMF. Ảnh: HM
Goodbye IMF. Ảnh: HM
Bộ trưởng Cao Đức Phát và Phạm Vũ Luận qua đường 19. Ảnh: HM
Bộ trưởng Cao Đức Phát và Phạm Vũ Luận qua đường 19 “trái phép” :) . Ảnh: HM

Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013

Những khái niệm bị hiểu lầm: 1 tăng trưởng GDP

Xem trước:

- Người Việt nhập cư vào nước Anh như thế nào
- Đường đến thiên đàng
- Buôn lậu bằng nhạc cụ

Khái niệm tăng trưởng GDP được xuất hiện với tần suất khá cao trên mặt báo. Kinh tế Mỹ tăng trưởng 2% đã lấy làm mừng, kinh tế Pháp tăng trưởng âm mà dân Tây vẫn đi nghỉ hè nhiều đến mức kẹt xe kéo dài 800km trên xa lộ. Kinh tế Nhật thì suy thoái đã 20 năm nay nhưng lại là nguồn ODA lớn nhất cho VN.

Trong khi đó, tăng trưởng 5% làm nhiều người lo ngại và đặc biệt kinh tế Trung quốc tăng trưởng ở mức 7% đã bị xem là hạ cánh nặng nề.

Hoặc, VN được xem là xứ hạnh phúc thuộc hàng top ten hoàn cầu nhưng tăng trưởng  thuyền nhân vượt biên mới thật ngoạn mục. Thành tích mà cơ quan di trú Úc ghi nhận từ đầu năm 2013 đến nay số người vượt biên trái phép đến Úc đã đạt con số 760 người (so với con số 50 người vào năm ngoái, 31 người vào năm 2011).

Vậy khái niệm tăng trưởng là gì mà có nhiều tiêu chuẩn đánh giá dẫn đến mê hồn trận như vậy.

Tổng sản lượng quốc nội GDP được giới kinh tế gia tính toán bằng tổng số:
1. Chi tiêu của quần chúng, nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của người dân
2. Chi tiêu của bộ máy thống trị, để điều hành và đôi chỗ có trục lợi
3. Đầu tư hay tiết kiệm, để thỏa mãn nhu cầu cao hơn trong tương lai
4. Lượng Xuất khẩu trừ đi lượng Nhập khẩu, chỉ là số sách kế toán phù phiếm mà không có ý nghĩa với đời sống. Nhập siêu phục vụ cho mục 1, Xuất siêu đáp ứng mục 3.

Trong 4 khoản cấu thành nên GDP, chỉ có khoản 1 - chi tiêu của quần chúng là thực chất có ý nghĩa. 3 khoản mục còn lại chỉ cần thiết nếu đáp ứng được mục tiêu tăng trưởng của khoản 1.

Kinh tế Liên bang Mỹ, chi tiêu của dân chúng chiếm hết 80% tổng sản lượng, ngân sách tiêu hết 15-17%, đầu tư khoảng 10%. Phần thiếu hụt đi vay bằng cách bán công khố phiếu hoặc FDI của nước ngoài. Do chi tiêu quá nhiều nên nước Mỹ phải nhập siêu, tiêu thụ nhiều đến mức lố bịch, phúc lợi xã hội không tương xứng với sản lượng và tỷ lệ tiết kiệm/đầu tư thấp giảm cơ hội tăng trưởng.

Nhật Bản và các nước Tân Hưng aka NICs chi tiêu 50-60%, ngân sách tiêu 15% và còn lại là tiết kiệm.

Trung Quốc thời cải cách Đặng Tiểu Bình chi tiêu hết 50% và giảm dần theo đà tăng trưởng kinh tế, đến nay chỉ còn quãng 35%.

Việt Nam thời kỳ Đổi mới chi tiêu hết 50-60% rồi giảm dần theo đà định hướng XHCN, đến nay còn cỡ 25-30%, đầu tư/tiết kiệm cỡ 40-45% và ngân sách chiếm xấp xỉ 30% lại còn bội chi 6-7%.

Bây giờ ta so sánh với Campuchea, nước mới thoát khỏi thảm họa diệt chủng, và đã từng là chư hầu của Việt Nam.

GDP trên đầu người, VN luôn gấp 1.5 lần Kam
Tỷ trọng Chi tiêu - Đầu tư - Thuế
Nên chi tiêu trên đầu người của VN và Campuchea lần lượt là $1,233 và $1,450.

Hoặc so sánh tốc độ tăng trưởng GDP của VN với tốc độ tăng thu ngân sách của nó

Đó mới là bản chất thật của tăng trưởng GDP

 http://xacbacxangbang.blogspot.com/2013/07/nhung-khai-niem-bi-hieu-lam-1-tang.html

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013

Danh sách các quỹ đầu tư chứng khoán tính đến hết năm 2012

14-7-2013 (VF) – Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ.
Dưới dây là danh sách các quỹ đầu tư chứng khoán tính đến hết năm 2012 tại Việt Nam (theo UBCKNN):
Tên quỹ
Tên công ty QL
Ngày cấp phép
Vốn điều lệ
(tỷ VNĐ)
Loại quỹ
Quỹ thành viên Con Hổ Việt Nam CTCP Quản lý Quỹ MB  29/8/2007
500
Đóng
Quỹ Thành viên Việt Nhật FPT CTCP Quản lý Quỹ FPT 20/3/2008
1.123,3
Đóng
Quỹ Thành viên Y tế Bản Việt CTCP Quản lý Quỹ Bản Việt 15/1/2008
500
Đóng
Quỹ Tầm Nhìn SSI CTCP Quản lý Quỹ SSI 14/11/2007
1700
Đóng
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Bản Việt CTCP Quản lý Quỹ Bản Việt 28/12/2006
792
Đóng
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Bảo Việt Công ty TNHH Quản lý Quỹ Bảo Việt 19/7/2006
1000
Đóng
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Hà Nội CTCP Quản lý Quỹ MB 17/11/2006
200
Đóng
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Sài Gòn A1 Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ Thành Việt 17/7/2006
33,35
Đóng
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Sài Gòn A2 Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ Thành Việt 16/3/2007
500
Đóng
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Vietcombank 1 Công ty Liên doanh Quản lý Quỹ Vietcombank 29/12/2005
150
Đóng
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Vietcombank 2 Công ty Liên doanh Quản lý Quỹ Vietcombank
01/01/2007
1.010,52
Đóng
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Vietcombank3 Công ty Liên doanh Quản lý Quỹ Vietcombank
445

Quỹ Đầu tư Chứng khoán Việt Nam (VF1) Công ty Quản lý Quỹ VFM 20/5/2004
1000
Đóng
Quỹ Đầu tư Cân bằng Prudential (PRUBF1) Công ty Prudential Việt Nam 19/7/2006
500
Đóng
Quỹ Đầu tư Cổ phần MB Capital 1 CTCP Quản lý Quỹ MB 28/5/2010
200
Đóng
Quỹ Đầu tư Doanh nghiệp Hàng đầu Việt Nam (VF4) CTCP Quản lý Quỹ VFM 28/2/2008
806,46
Đóng
Quỹ Đầu tư Năng động Việt Nam (VFA) Công ty Quản lý Quỹ VFM
02/04/2010
240
Đóng
Quỹ Đầu tư Sabeco 1 CTCP Quản lý quỹ Sabeco
12/03/2008
350
Đóng
Quỹ Đầu tư Thành viên SSI CTCP Quản lý Quỹ SSI 27/7/2010
360

Quỹ Đầu tư Tăng trường ACB Công ty TNHH Quản lý Quỹ ACB 30/6/2011
240,08
Đóng
Quỹ Đầu tư Tăng trưởng Manulife Công ty Quản lý Quỹ Manulife Việt Nam
214,09

Quỹ Đầu tư Tăng trưởng Việt Long CTCP Quản lý Quỹ Việt Long 14/9/2007
300
Đóng
Quỹ Đầu tư Tăng trưởng Việt Nam (VF2) CTCP Quản lý Quỹ VFM
12/12/2006
962,97
Đóng
Quỹ Đầu tư Việt Nam Công ty Liên doanh Quản lý Quỹ đầu tư BIDV-Vietnam partner 13/3/2006
1.349

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

Nhu cầu vàng của thị trường đang ở mức cao (??)

Toàn bộ hơn 1,5 tấn vàng mà Ngân hàng Nhà nước chào thầu hôm nay đã được mua hết. Trong tuần này, Ngân hàng Nhà nước chào thầu 120.000 lượng vàng thì chỉ dư có 100 lượng.

Thông báo về kết quả phiên đấu thầu vàng miếng diễn ra sáng nay, Ngân hàng Nhà nước cho biết, khối lượng trúng thầu đạt mức 40.000 lượng, bằng đúng khối lượng chào thầu, tương đương hơn 1,5 tấn vàng.

Phiên hôm nay là phiên đấu thầu vàng thứ ba trong tuần này, đồng thời cũng là phiên thứ ba kể từ sau thời điểm 30/6 - hạn chót để các tổ chức tín dụng tất toán trạng thái vàng. Kết quả của phiên này tiếp tục cho thấy nhu cầu vàng của thị trường đang ở mức cao.

Trong 3 phiên vừa qua, mỗi phiên Ngân hàng Nhà nước chào thầu 40.000 lượng vàng, thì có 2 phiên bán hết vàng và 1 phiên “ế” 100 lượng vàng. Như vậy, riêng trong tuần này, khối lượng vàng trúng thầu đạt hơn 4,6 tấn vàng.

Có 7 thành viên trúng thầu trong phiên hôm nay. Đây là các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp đã thiết lập quan hệ giao dịch mua bán vàng miếng trực tiếp với Ngân hàng Nhà nước.

Giá trúng thầu cao nhất của phiên hôm nay là 38,08 triệu đồng/lượng, trong khi giá vàng SJC thu mua của Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết cho thị trường Tp.HCM hôm nay chỉ dao động từ dưới 37,5 triệu đồng/lượng đến 37,8 triệu đồng/lượng. Điều này cho thấy, có những đơn vị sẵn sàng bỏ thầu giá “chát” để mua được vàng.

Giá trúng thầu thấp nhất của phiên này là 37,9 triệu đồng/lượng, cũng khá cao so với giá thị trường. Ngân hàng Nhà nước không bố mức giá sàn cụ thể của phiên.

Lúc hơn 16h chiều nay, giá vàng SJC theo niêm yết của Công ty SJC tại Tp.HCM là 37,47 triệu đồng/lượng (mua vào) và 38,07 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm 330.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và chiều bán so với mức giá đỉnh vào buổi sáng. Tại Hà Nội, Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý báo giá vàng SJC ở các mức tương ứng lần lượt là 37,75 triệu đồng/lượng và 38,1 triệu đồng/lượng.

So với giá vàng quốc tế quy đổi, giá vàng SJC bán lẻ trong nước đang cao hơn gần 6 triệu đồng/lượng.

Đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức 40 phiên đấu thầu bán vàng miếng, với tổng khối lượng chào thầu là 1,178 triệu lượng, tương đương 45,3 tấn vàng, và khối lượng trúng thầu là 1,076 triệu lượng, tương đương gần 41,4 tấn vàng.
 http://vneconomy.vn/20130705042352633P0C6/nhu-cau-vang-cua-thi-truong-dang-o-muc-cao.htm

Bài liên quan: Làm thế nào để chuyển ngoại tệ ra nước ngoài

Xem trước:
- Vấn đề nổi bật năm 2012
- Xu hướng đầu tư năm con Rắn
Cần đánh thuế ngoại tệ chuyển ra nước ngoài

Chuyển ngoại tệ ra nước ngoài rất đơn giản, chỉ cần đáp ứng một trong các mục đích sau:

- Chi phí học tập, chữa bệnh cho bản thân hoặc thân nhân.
- Thanh toán các khoản phí cho nước ngoài (phí chữa bệnh, phí hội viên, lệ phí các loại..).
- Trợ cấp cho thân nhân ở nước ngoài.
- Chuyển tiền thừa kế cho người thụ hưởng thừa kế ở nước ngoài.
- Công tác, du lịch, thăm thân nhân ở nước ngoài.
- Định cư ở nước ngoài

Kinh tế trong nước đã kiệt quệ sức mua từ lâu nên xu hướng chủ đạo hiện nay là mang tiền ra nước ngoài đầu tư hay gọi là Tẩu tán tài sản cũng được.

Chuyển ngoại tệ ra nước ngoài bằng những lý do trên có số lượng rất hữu hạn và đòi hỏi phải có chứng từ chứng minh. Trên thực tế, nhiều đại gia khoe khoang cơ ngơi ở nước ngoài là những căn biệt thự triệu đô ở những khu phố hạng sang bên Mỹ quốc. Họ không thể chuyển tiền theo lối kể trên.

Ở trong nước không thể gom đô tiền giấy để gửi ra nước ngoài được vì:
- Việc mua đô ở ngoài thị trường tự do là bất hợp pháp và mua đến hàng triệu đô thì chắc chắn sẽ bị cảnh sát kinh tế bắt quả tang
- Không thể gửi đô giấy ra nước ngoài bằng kiện hàng bưu phẩm hay xách tay vì vừa kém tin cậy lại vừa bất hợp pháp. Cách này nếu được thì cũng chỉ đạt được số lượng rất nhỏ.

Về danh nghĩa giao dịch ngoại tệ ngoài thị trường tự do bị cấm nhưng giao dịch vàng thì không, cá nhân có thể mua hàng tấn vàng một cách hợp lệ. Nhưng không thể mua đô la từ ngân hàng ngoài những mục đích được kể ra ở trên.

Mỗi năm, những người Việt định cư ở nước ngoài (VK) gửi về cho thân nhân trong nước (BN) để tiêu xài lên đến trên 10 tỷ đô. VK chỉ việc mang đô la tới Dịch vụ chuyển tiền tại Mỹ (DVM) một số tiền mặt và địa chỉ để uỷ thác cho dịch vụ gửi đến tận tay người thụ hưởng là thân nhân của họ (BN).

Ở một đường dây khác ở trong nước, Đại gia muốn chuyển tiền để đầu tư ra nước ngoài chỉ cần mua vàng từ các Tiệm vàng (TV) ở VN, giao vàng cho Dịch vụ chuyển tiền tại Việt Nam (DVV) uỷ thác giao đô cho thân nhân bên Mỹ (ĐT). DVV chỉ nhận vàng SJC.

DVV dùng vàng mua đô từ NHNN hoặc qua trung gian là TV. DVV giao tiền đô cho BN, DVM giao đô nhận từ VK cho ĐT.

BN không thể tiêu xài trong lãnh thổ VN bằng tiền đô mà phải bán đô lấy tiền Đồng. Bình quân thuế chiếm 30% doanh số bán lẻ. Thuế này lại không đến tay người dân, hay nói cách khác người dân không được hưởng gì từ thuế.

Các hoạt động giao dịch trên được khái quát qua sơ đồ sau:


Vàng "có giá" và không thể mất giá vì nó là phương tiện thanh toán thực sự thay thế cho đô. Giá vàng cao hơn giá thế giới thể hiện giá trị thật của đô la lâu nay không được tự do chuyển đổi và bị NHNN áp đặt tỷ giá. Cảnh báo để mọi người chớ có dại mà short vàng để kiếm lãi sau 30/6 với kỳ vọng giá vàng sẽ hạ.

Chú thích:
Từ nhiều năm nay, giá vàng trong nước cao hơn giá thế giới sau khi đã áp thuế khoảng 4-5 triệu đồng/lượng, cá biệt có lúc cao điểm lên đến 6-7 triệu đồng/lượng.

Lập luận được cho là "có tính thuyết phục" đó là các ngân hàng đã bán số vàng huy động được bằng  lãi suất 1-3% để lấy tiền cho vay với lãi suất có lúc lên đến 25%, bình quân là 20%. Theo đó cho dù giá vàng có tăng 10% khi mua lại để trả cho khách gửi vàng thì ngân hàng vẫn có lãi 7-9%. Các ngân hàng buộc phải mua lại vàng trên thị trường bằng mọi giá để kịp tất toán vàng vào thời điểm 30/6 tới. Cầu về vàng đã vượt quá số cung nên giá vàng SJC cao hơn giá thế giới. Theo quan điểm này, giá vàng trong nước sẽ "cân bằng" với giá thế giới sau ngày 30/6 tới đây.

Lập luận trên mới nghe thì thấy có lý đối với dân chúng không có vàng nhưng không có lý đối với giới ngân hàng. Vì cái gọi là "Tất toán vàng" không phải là hành động thực tế mà chỉ là khẩu hiệu để hô cho có khí thế cách mạng. Trước đó đã có 4 lần gia hạn tất toán vàng:

Ngày 30/6/2010
Ngày 31/7/2010
Ngày 30/6/2011
và ngày 30/6/2013 là thời hạn tất toán vàng lần thứ 4, không có gì bảo đảm đây là lần cuối.

http://xacbacxangbang.blogspot.com/2013/05/lam-nao-e-chuyen-ngoai-te-ra-nuoc-ngoai.html

Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013

Những động thái kinh tế Việt Nam nổi bật đến giữa năm và dự báo cả năm 2013

Bơm 40.000 tỷ vào nền kinh tế mỗi tháng

Về gói 30 nghìn tỷ tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, phấn đấu đến hết năm 2013 giải ngân được khoảng 15 - 20 nghìn tỷ đồng.

Là thành viên cuối cùng của Chính phủ đăng đàn trong phiên trả lời chất vấn chiều nay 14/6 tại Quốc hội, Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã trình bày báo cáo cập nhật tình hình kinh tế - xã hộicác nhiệm vụ cần quan tâm trong thời gian tới.
Theo Phó Thủ tướng, trong 5 tháng đầu năm, kinh tế vĩ mô tiếp tục chuyển biến tích cực. Lạm phát được kiểm soát, giá tiêu dùng tháng 5 giảm 0,06%; 5 tháng tăng 2,35%, là mức thấp nhất trong 4 năm qua. Mặt bằng lãi suất tiếp tục giảm; dư nợ tín dụng chuyển dịch theo hướng tốt hơn, tăng 2,98%, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên.
Tỷ giá, thị trường ngoại hối ổn định. Xuất khẩu tăng 15,1%, nhập khẩu tăng 16,8%.Vốn FDI đăng ký đạt 8,52 tỷ USD, tăng 8,9%; giải ngân đạt 4,58 tỷ USD, tăng 1,6%; giải ngân vốn ODA đạt 1,5 tỷ USD, bằng 31,3% kế hoạch cả năm, cao hơn so với cùng kỳ (25%)…
Tuy nhiên, kinh tế xã hội còn rất nhiều khó khăn, thách thức. Từ nay đến cuối năm, Chính phủ kiên trì, nhất quán thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; theo dõi sát diễn biến tình hình để điều hành chủ động, linh hoạt các công cụ chính sách, nhất là về tài khóa - tiền tệ, hỗ trợ, tháo gỡ kịp thời cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm và bảo đảm an sinh xã hội, phấn đấu quyết liệt hoàn thành cao nhất các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 mà Quốc hội đã đề ra.
Phó Thủ tướng cũng đã có phần giải trình bổ sung một số nội dung liên quan đến giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh.
Về tín dụng, xử lý nợ xấu, theo Phó Thủ tướng, thời gian tới sẽ triển khai các giải pháp tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp thông qua tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất cho vay, đơn giản hóa thủ tục, thực thi các chương trình hỗ trợ nhất là đối với các lĩnh vực ưu tiên như sản xuất, tiêu thụ hàng nông sản, thủy sản xuất khẩu chủ lực như lúa gạo, cà phê, cá tra, tôm...
Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ, giảm lãi suất đối với các khoản tín dụng đã vay. Tháo gỡ khó khăn, hướng dòng vốn tín dụng vào các dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có thị trường, cho vay tiêu dùng cá nhân, kích thích sức mua, góp phần tăng tổng cầu cho nền kinh tế.
Thực hiện mục tiêu tăng trưởng tín dụng đến cuối năm 2013 là 12%, bình quân hàng tháng sẽ có thêm khoảng 40 nghìn tỷ đồng vốn tín dụng cho nền kinh tế.
Tiếp tục triển khai thực hiện quyết liệt các giải pháp xử lý nợ xấu theo Đề án đã được phê duyệt. Khẩn trương đưa Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam đi vào hoạt động để tập trung xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng có tỷ lệ nợ xấu cao trên 3%.
Hướng dẫn, hỗ trợ các tổ chức tín dụng thành lập công ty quản lý tài sản của mình để xử lý nợ xấu. Phấn đấu đến cuối năm, sẽ xử lý được khoảng 105 nghìn tỷ đồng nợ xấu, đưa tỷ lệ nợ xấu về mức an toàn vào năm 2015.
Về tháo gỡ khó khăn trực tiếp cho thị trường bất động sản và tạo điều kiện nhà ở cho nhân dân. Chính phủ đã chỉ đạo triển khai thực hiện hỗ trợ cho vay để mua, thuê mua nhà ở xã hội theo Nghị quyết số 02/NQ-CP với tổng số tiền dự kiến khoảng 30 nghìn tỷ đồng, tuy nhiên, việc triển khai còn chậm. Các bộ, ngành, địa phương khẩn trương xử lý các vướng mắc để tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn này, phấn đấu đến hết năm 2013 giải ngân được khoảng 15 - 20 nghìn tỷ đồng. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo bước chuyển mạnh mẽ hơn trong việc giải quyết nhu cầu nhà ở xã hội.

Thành Hưng
Theo Trí Thức Trẻ

Những động thái kinh tế Việt Nam nổi bật đến giữa năm và dự báo cả năm 2013

 (Tamnhin.net) - Về tổng thể, năm 2013 sẽ vẫn là năm khó khăn chung của cả nền kinh tế thế giới và của Việt Nam. Các dự báo kinh tế của hầu hết các tổ chức và quốc gia vẫn thường xuyên bị điều chỉnh theo hướng giảm xuống. Kinh tế Việt Nam năm 2013 được ghi nhận bởi một số động thái chủ yếu sau.

Thứ nhất, chỉ số CPI sẽ dưới một con số là chắc chắn, với ước tính khoảng trên dưới 7,5% theo dự báo của ADB. Ngoài ra, giá thực phẩm tăng cao, sản lượng lúa tăng, nhưng tỷ lệ hộ chăn nuôi trống chuồng lại tăng và trong quý I/2013, giá xuất khẩu giảm mạnh (năm trước giảm tới 11%, 3 tháng năm nay giảm 10,2%); nếu Chính phủ không cho mua tạm trữ thì giá lương thực ở trong nước còn giảm sâu hơn nữa. Giá chi phí đầu vào tăng, giá bán ra tăng chậm, trong khi giá hàng tiêu dùng phi lương thực tăng cao hơn. Tâm lý tiết kiệm tiêu dùng vẫn chưa được cải thiện.

Thứ hai, GDP cả năm GDP sẽ tăng ở mức cao hơn năm 2012 một chút, tức sẽ tăng từ 5,2-5,5%. ; rất có thể năm 2013 sẽ là năm thứ hai liên tiếp ghi nhận kinh tế Việt Nam có mức tăng trưởng GDP cả năm thấp hơn mức trung bình của khu vực. Đối với Việt Nam, ADB hạ dự báo tăng trưởng GDP năm 2013 xuống còn 5,2% (so với mức 5,7% mà ADB đã đưa ra 6 tháng trước) và sẽ tăng lên mức 5,6% trong năm 2014. Lạm phát trung bình năm 2013 dự kiến sẽ vào khoảng 7,5% tại thời điểm cuối năm 2013, tăng lên 8,2% trong 2014, mức thấp hơn so với dự báo trước đây. Thặng dư thương mại dự kiến sẽ đạt mức kỷ lục 12,5 tỷ USD trong năm 2013 và thặng dư cán cân tài khoản vãng lai tiếp tục tăng trong năm nay và sẽ giảm nhẹ trong năm 2014. ADB cũng nhấn mạnh Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài (FDI); đồng thời, khả năng duy trì cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trở lại 7 - 8% của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào điều kiện thời tiết thuận lợi cho sản xuất lương thực, tỷ giá tiền đồng ổn định, thực hiện thành công các cải cách cơ cấu và cải thiện môi trường kinh doanh một cách toàn diện hơn, tập trung vào kiểm soát quy mô nợ xấu, lành mạnh hoá hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước. Cùng quan điểm trên, trong báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu công bố hôm 16/4, IMF dự báo, năm 2013 và 2014 của Việt Nam tăng trưởng GDP sẽ đạt khoảng 5,2%, tăng lên 5,5% vào năm 2018; lạm phát lần lượt là 8,8% và 8%; thâm hụt tài khoản vãng lai lên 2,2% so với mức 1,6% năm 2012. UNDP, trong Báo cáo điều tra tình hình kinh tế - xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong năm 2013 công bố sáng 18/4, cho rằng nền kinh tế Việt Nam sẽ lấy lại đà tăng trưởng vào 6 tháng cuối năm 2013 và GDP cả năm sẽ tăng lên mức 5,5%.

Thứ ba, vốn đầu tư xã hội tiếp tục trầm lắng, nhưng đầu tư của khu vực ngoài nhà nước sẽ tăng hơn vào nửa cuối năm. Trong quý I/2013, đầu tư của khu vực này có tốc độ tăng 11,6% cao hơn tốc độ chung 5,5%, nên tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã cao hơn cùng kỳ năm trước (36,9% so với 34,9%). Đây là xu hướng tích cực trong quá trình cơ cấu lại nguồn vốn đầu tư xã hội và là kết quả ghi nhận bước đầu của thực hiện Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ ban hành đầu năm 2013.

Thứ tư, thu hút FDI sẽ được cải thiện hơn cả về vốn đăng ký, bổ sung, cũng như vốn giải ngân. Theo Tổng cục Thống kê, trong quý I/2013, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm FDI là 6,034 tỉ đô la, tăng 63,6% so với cùng kỳ năm 2012; đồng thời, vốn giải ngân lên tới 2,7 tỉ đô la, tăng hơn 7% so với cùng kỳ trước. Điều này cho phép Việt Nam tự tin điều chỉnh chỉ tiêu thu hút tới 16,3 tỷ USD so với mức dự kiến 13- 14 tỷ USD của kế hoạch đã thông qua cho năm nay. Cơ cấu vốn đầu tư đã tập trung đúng hướng, với 91,8% vốn trong ngành công nghiệp chế biến và chủ yếu đến từ Nhật Bản, Singapore và Nam Triều Tiên... Khu vực FDI đã đóng góp tích cực đối với tăng trưởng GDP, thu ngân sách, giải quyết việc làm, chiếm 64,8% tổng kim ngạch xuất khẩu quý I/2013 của cả nước.

Thứ năm, tổng kim ngạch hàng hóa xuất và nhập khẩu sẽ gia tăng và tái nhập siêu sẽ đậm nét hơn. Trong cả 3 tháng đầu năm, cả nước vẫn xuất siêu khoảng 270 triệu USD. Trong đó, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 29,76 tỷ USD, tăng 19,8% so với cùng kỳ; tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 29,49 tỷ USD, tăng 17,7% so với kết quả thực hiện của 3 tháng năm 2012. Hy vọng mức 126 tỷ USD xuất khẩu cả năm 2013 sẽ có tính khả thi cao và tạo động lực tích cực cho tăng trưởng, việc làm và ổn định kinh tế chung. Hơn nữa, khu vực doanh nghiệp trong nước đã xuất siêu ( năm 2012 nhập siêu), cán cân thanh toán và dự trữ ngoại tệ tăng, tỷ giá ổn định cũng là những điểm nhấn tích cực trong quý I/2013. Tuy nhiên, nhập siêu 5 tháng qua tới gần 2 tỷ USD cho thấy xu hướng nhập siêu sẽ đậm hơn năm trước.

Thứ sáu, cơ hội phục hồi và mở rộng sản xuất đối với một số doanh nghiệp đang đậm dần, nhất là với các doanh nghiệp có phương án hữu hiệu chủ động tái cấu trúc, nắm bắt và xử lý sớm thông tin, phản ứng nhanh nhậy và tiếp cận với các nguồn vốn, nguồn cung cấp thiết bị, máy móc giá rẻ, tham gia ngày càng chặt chẽ, hiệu quả vào quá trình tái cấu trúc, phân công lao động và hiệp tác kinh tế chung, các chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng trên thị trường trong nước và quốc tế...Việc Chính phủ thông qua và triển khai các Nghị quyết 01, Nghị quyết 02 và Đề án tái cấu trúc tổng thể nền kinh tế trong quý I/2013 với nỗ lực giảm các gánh nặng lãi suất và các gánh nặng tài chính, thể chế cho doanh nghiệp, sự tiếp tục gia tăng các hoạt động M&A cùng với làn sóng tái cấu trúc các DNNN cũng như toàn bộ nền kinh tế đã, đang và sẽ góp phần tạo và tô đậm hơn nhiều hy vọng cải thiện kinh tế cả cấp vĩ mô, cũng như vi mô.

Thứ bẩy, nợ xấu, hàng tồn kho, sức mua thị trường và khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp thấp vẫn là những nút thắt kinh tế đáng quan ngại, mặc dầu theo báo cáo của NHNN nợ xấu đã có sự cải thiện về tỷ lệ, giảm từ 8% xuống còn 6%; cũng như đang có dấu hiệu tích cực chuyển đổi dòng sản phẩm nhà ở xã hội trên thị trưởng bất động sản.

Thứ tám, tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chậm được cải thiện, với mức quý I/2013 ước đạt 636,2 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2012 (nếu loại trừ yếu tố tăng giá tiêu dùng bình quân, thì tăng 4,5% thấp hơn tốc độ tăng 4,7% của cùng kỳ năm trước và thấp hơn tốc độ tăng GDP cùng kỳ); Nếu xét cơ hội mở rộng cầu trong cả năm với 2 Tết Dương lịch, Tết Âm lịch, là mùa cưới hỏi, du lịch, thì đây là con số không cao và cho thấy tổng cầu trong nước giảm.

Thứ chín, du lịch thiếu động lực, với lượng khách du lịch quốc tế sụt giảm khá mạnh tới 6,2% so cùng kỳ năm trước là dấu hiệu cho thấy áp lực tiết giảm chi tiêu của người dân các nước đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngành dịch vụ hàng đầu này của Việt Nam; đồng thời cũng cho thấy cần nhiều hơn các nỗ lực cải thiện hiệu quả xúc tiến quảng bá hình ảnh và nâng cao chất lượng dịch vụ của ngành du lịch quốc gia.

Thứ mười, lần đầu tiên xuất hiện tình trạng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới thấp hơn số doah nghiệp dừng hoạt động và phá sản trong quý I/2013 trên phạm vi cả nước nói chung. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Hội nghị đăng ký kinh doanh 16/4, trong quý I/2013, cả nước có 15.707 DN đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 79.389 tỷ đồng. So với quý I/2012 thì số DN đăng ký thành lập mới giảm 6,8% và số vốn đăng ký giảm 16,1%.

So với quý IV/2012 thì số lượng DN thành lập mới giảm 9,4% và số vốn đăng ký giảm 26,7%. Trong quý I/2013, cả nước có 2.272 DN hoàn thành các thủ tục giải thể DN, giảm 14% so với quý I/2012 và giảm 8,1% so với quý IV/2012. Cũng trong quý I/2013, cả nước có 13.011 DN khó khăn phải dừng hoạt động. Trong đó, 3.567 DN đăng ký tạm ngừng hoạt động và 9.444 DN ngừng hoạt động, nhưng chưa hoàn thành thủ tục đóng mã số thuế.

Thứ mười một, tỷ lệ thấp nghiệp xã hội tiếp tục tăng, ở khu vực thành thị là 3,4% và thiếu việc làm ở nông thôn là 4%, cao hơn cùng kỳ và tập trung trong ngành công nghiệp-xây dựng.

Thứ mười hai, thu NSNN cũng tiếp tục có những áp lực,  thu ngân sách quý I/2013 chỉ đạt 20,6%, so với thông thường phải đạt 25-27%. Áp lực cân đối NSNN còn bị gia tăng bởi nhiều nguy cơ bất ngờ về hiện tượng thời tiết cực đoan và dịch bệnh trong chăn nuôi.

Thứ mười ba
, tỷ giá ổn định là tín hiệu tích cực cho nền kinh tế và tỷ giá năm 2013 sẽ tăng không quá 2% như cam kết của NHNN...

Nhìn chung, những động thái kinh tế lớn nhất trong năm 2013 về cơ bản vẫn là những vấn đề tồn dư và quán tính của năm 2012, trong đó nổi bật là những nút thắt về nợ xấu, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, cải cách DNNN, quản lý đầu tư công và nợ công, hâm nóng trở lại thị truờng bất động sản. Năm 2013 khả năng Việt Nam đạt yêu cầu tăng trưởng GDP cao hơn năm 2012 là khá chắc chắn; còn mục tiêu lạm phát thấp hơn năm 2012 là khá khó khăn, vì CPI của quý I/2013 đã chiếm gần 37% mục tiêu tốc độ tăng giá tiêu dùng khoảng 6-6,5% của cả năm mà Chính phủ đề ra; trong khi, thời gian tới sẽ tăng lương và một số địa phương tiếp tục tăng giá viện phí theo Thông tư liên tịch 04 và học phí năm học 2013- 2014 theo Nghị định 49; áp lực tăng giá điện do hạn hán và tăng giá than cũng đang hiện hữu…

Để tiếp tục cải thiện tình hình, nhất là gỡ khó cho doanh nghiệp và duy trì động lực phát triển kinh tế, các giải pháp cần được triển khai đồng bộ và quyết liệt hơn theo h ướng giảm nhẹ đồng thời cẩ 3 gánh nặng cho doanh nghiệp và nền kinh tế về chi phí tài chính, chi phí vốn và chi phí hành chính. Doanh nghiệp phải chủ động tiếp tục giảm giá bán, đưa hàng hóa về nông thôn, thúc đẩy tái cơ cấu cả về danh mục đầu tư và sản phẩm, lao động và quản trị, nguồn vốn và quản trị...

Đặc biệt, cần hoàn thiện cơ sở pháp lý, khuyến khích thu hút FDI và các hoạt động M&A trong quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp và chuyển nhượng dự án kinh doanh; Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về doanh nghiệp đồng bộ, minh bạch và hiệu quả, tạo hành lang pháp lý bình đẳng cho doanh nghiệp trong và ngoài nước khi gia nhập thị trường; trong đó hệ thống thông tin đăng ký kinh doanh quốc gia cần tích hợp đầy đủ cơ sở dữ liệu các loại hình doanh nghiệp; thống nhất quy trình lưu trữ giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và ngành thuế trong cấp chung mã số doanh nghiệp. Hỗ trợ mạnh hơn cho đầu tư sản xuất thưc ăn chăn nuôi nhằm cải thiện tình trạng giá cả thức ăn chăn nuôi ngày càng đắt đỏ và bị phụ thuộc nặng vào nước ngoài như thời gian qua; tạo điều kiện cao nhất và toàn diện cho hàng xuất khẩu của Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, vượt qua các rào cản thương mại; đồng thời, cần tiếp tục sử dụng tập trung đầu tư công nhằm tạo thuận lợi và kích thích đầu tư ngoài ngân sách, khơi thông và ổn định các thị trường đầu ra cho nền kinh tế, nhất là cho sản phẩm nông nghiệp...

Nợ xấu sẽ được cải thiện khi các ngân hàng thương mại tăng trích lập dự phòng rủi ro đối với nợ xấu và phân loại nợ đúng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần tăng cường thanh tra, giám sát để đảm bảo tuân thủ các quy định mới. Về việc thành lập Công ty quản lý tài sản để mua lại các khoản nợ xấu, ADB cho rằng việc đảm bảo đủ kinh phí để công ty hoạt động là yếu tố thiết yếu cho sự thành công, đồng thời cần có quy trình định giá tài sản minh bạch và hành lang pháp lý cho phá sản...

TS.Nguyễn Minh Phong